|
| Theo Kế hoạch thực hiện Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, đến năm 2030, Việt Nam có thêm 15 nhà máy nhiệt điện khí sử dụng LNG với tổng công suất 22.524 MW. Ảnh minh họa: Phúc An |
Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 56/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Điện lực về quy hoạch phát triển điện lực, phương án phát triển mạng lưới cấp điện, đầu tư xây dựng dự án điện lực và đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư dự án kinh doanh điện lực (NĐ56) và Nghị định số 100/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung NĐ56 (NĐ100) đang được Bộ Công Thương đưa ra lấy ý kiến.
Trong đó, Bộ Công Thương đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định về sản lượng điện hợp đồng tối thiểu dài hạn theo hướng không thấp hơn mức 75% sản lượng điện phát bình quân nhiều năm của dự án nhiệt điện khí thay cho mức 65% quy định tại NĐ56 và NĐ100. Đồng thời, thời gian áp dụng cơ chế này cũng được đề xuất kéo dài từ không quá 10 năm lên tối đa 15 năm kể từ ngày đưa dự án vào vận hành và tham gia thị trường điện.
Đối tượng áp dụng là các dự án nhiệt điện khí sử dụng LNG nhập khẩu được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra văn bản thông báo chấp thuận kết quả nghiệm thu hoàn thành công trình của chủ đầu tư và bắt đầu vận hành phát điện bằng LNG nhập khẩu trong giai đoạn từ khi Luật Điện lực số 61/2024/QH15 có hiệu lực đến trước ngày 1/1/2031.
Theo Bộ Công Thương, đề xuất này nhằm tạo lập hành lang pháp lý đủ hấp dẫn để thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước, góp phần hiện thực hóa nội dung chỉ đạo tại Nghị quyết số 70-NQ/TW của Bộ Chính trị, trong đó có yêu cầu rà soát, tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế trong quy hoạch, cấp phép, huy động vốn… cho các dự án về năng lượng; có cơ chế, chính sách đặc thù vượt trội để thu hút và triển khai các dự án năng lượng quan trọng, cấp bách quốc gia.
Bộ Công Thương cho biết, việc áp dụng Qc ở mức 75% có thể tạo áp lực lên giá bán lẻ điện do chi phí nhiên liệu LNG biến động, song đây là giải pháp hợp lý để tránh nguy cơ thiếu điện, vốn gây thiệt hại lớn hơn cho nền kinh tế. Bên cạnh đó, các dự án điện khí LNG khi đi vào vận hành sẽ đóng góp đáng kể cho ngân sách nhà nước, phát triển hạ tầng địa phương và thúc đẩy chuỗi cung ứng dịch vụ - logistics.
TS. Nguyễn Quốc Thập, Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam nhìn nhận, việc tăng Qc từ 65% lên 75% và nới thời gian áp dụng từ không quá 10 năm lên 15 năm là một bước tiến đột phá so với quy định hiện hành tại NĐ56 và NĐ100. Tuy nhiên, ông Thập cho rằng, các đề xuất này “chưa đáp ứng được kiến nghị của các nhà đầu tư”, do đó khó có thể khơi thông dòng vốn vào các dự án LNG.
“Qc được đề xuất ở mức không thấp hơn mức 75% sản lượng điện phát bình quân nhiều năm của dự án nhiệt điện khí đối với dự án đầu tư mới. Vậy mức trung bình nhiều năm đó dựa trên những dự án nào cần được Bộ Công Thương làm rõ. Ngoài ra, nhà đầu tư muốn có bảo lãnh của Chính phủ liên quan đến việc thực hiện hợp đồng, bao gồm cơ chế chuyển đổi ngoại tệ hiện vẫn chưa được tháo gỡ”, ông Thập nhận xét.
Đồng quan điểm, Chuyên gia năng lượng Phan Xuân Dương đánh giá, đây là chính sách vượt trội để tăng sức hấp dẫn cho dự án LNG. Tuy nhiên, ông Dương lưu ý, cấp thẩm quyền vẫn cần bổ sung giải pháp tháo gỡ điểm nghẽn trong thu hút đầu tư vào điện khí LNG, với việc làm rõ cơ chế phân chia rủi ro trong thực hiện dự án, trong đó có sự phân định trách nhiệm, nghĩa vụ một cách rõ ràng, minh bạch.
Trước đó, đại diện Tổng công ty Điện lực Dầu khí Việt Nam (PV Power) từng kiến nghị, cần có cơ chế linh hoạt hơn, chia sẻ rủi ro rõ ràng hơn trong dự án điện LNG.
Theo Kế hoạch thực hiện Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, đến năm 2030, Việt Nam có thêm 15 nhà máy nhiệt điện khí sử dụng LNG với tổng công suất 22.524 MW, chiếm 12,3% tổng công suất phát điện toàn quốc. Tổng nhu cầu vốn cho việc triển khai các dự án này dự kiến hơn 22 tỷ USD, chưa kể hàng chục tỷ USD cho hệ thống kho chứa tương ứng. Hiện chỉ có Nhà máy Nhiệt điện Nhơn Trạch 3 và Nhơn Trạch 4 đi vào vận hành, việc triển khai các dự án khác đang gặp khó khăn, thách thức cần được tháo gỡ.
Theo ông Nguyễn Duy Giang, Phó tổng giám đốc PV Power - Chủ đầu tư Nhiệt điện Nhơn Trạch 3 và Nhơn Trạch 4, trong quá trình triển khai các dự án này, Chủ đầu tư cũng gặp rất nhiều khó khăn, trong đó có vấn đề thu xếp vốn không có bảo lãnh. Chủ đầu tư phải thuyết phục bên cho vay mất hàng năm trời thì họ mới chấp thuận.