Giới chức Fed hiểu rõ rằng công cụ thô ráp của họ - việc nâng chi phí đi vay - tạo ra tác động không đồng đều. Trong bối cảnh các công ty AI chi tiêu bạo tay như thể tiền bạc không phải là vấn đề, giới chuyên gia kinh tế nhận định nỗi đau từ việc tăng lãi suất đang dồn sang những đối tượng khác: đó là các doanh nghiệp và hộ gia đình phụ thuộc nhiều hơn vào tín dụng, hoặc các doanh nghiệp vừa và nhỏ phải thu hẹp kế hoạch đầu tư khi chi phí vay mượn leo thang.
Bà Nela Richardson, Kinh tế trưởng của ADP, chia sẻ về mục tiêu lạm phát 2% của Fed – vốn chưa thể chạm tới trong hơn 5 năm qua: "Đường đến đích thì vẫn có, chỉ là không phải ngả đường nào cũng rộng mở". Chẳng hạn, thị trường nhà ở hiện đã suy yếu, trong khi thị trường lao động không bị coi là nguồn gốc gây ra lạm phát thông qua việc tăng lương.
"Vậy thì còn lại gì? Các doanh nghiệp nhỏ, bởi vì họ cần vốn vay ngân hàng; người tiêu dùng phải trang trải các khoản thanh toán bằng nợ và thẻ tín dụng... Hay có thể là thị trường chứng khoán", vốn được xem là yếu tố hậu thuẫn chi tiêu của các hộ gia đình giàu có nhưng lại thường dễ bị tổn thương trước đợt tăng lãi suất, bà phân tích.
Quả thực, thị trường chứng khoán đã sụt giảm trong tuần trước sau khi một báo cáo lạm phát mạnh mẽ đến bất ngờ củng cố kỳ vọng rằng Fed sẽ phải nâng lãi suất lên mức cao hơn.
Fed sẽ có cuộc họp vào ngày 27 - 28/10 và dự kiến giữ nguyên lãi suất ở mức 3,75 - 4,00%.
Chủ tịch Fed Kevin Warsh thừa nhận rằng đầu tư vào AI là một cú sốc đối với giá cả và nhu cầu, dẫu cho ông nhìn thấy những thành quả về tài sản và năng suất "ở chân trời phía trước".
"Nếu bạn là một nhà ngân hàng trung ương và công việc của bạn là cố gắng đảm bảo giá cả ổn định cùng việc làm đầy đủ, bạn phải nhận thức đây là một cú sốc", ông Warsh cho biết.
Điều mà ông chưa đề cập là cách thức Fed có thể phải phản ứng ra sao trước những áp lực giá cả đang thành hình, và điều đó có ý nghĩa gì đối với ngoài biên giới của một ngành công nghiệp dự kiến sẽ rót khoảng 1 nghìn tỷ USD vào năm tới, tương đương khoảng 3% GDP.
Trong cuộc họp báo sau hội nghị chính sách tháng trước, ông Warsh cho biết ông không nghĩ Fed sẽ "cần phải gây tổn hại đến thị trường lao động" để đưa lạm phát về mức 2%. Hồi đầu mùa hè, ông lưu ý rằng thị trường nhà ở và nông nghiệp đang "cho thấy những căng thẳng" từ chi phí đi vay cao hơn, dù ông không coi các điều kiện tín dụng là "thắt chặt".
Tuy nhiên, điều ông chưa đi sâu chi tiết là lãi suất cao hơn có thể làm giảm lạm phát bằng cách nào, hay những tổn thương kinh tế sẽ xuất hiện ở đâu.
"Ông Warsh đã nói rằng ông không thấy có sự xung đột giữa lạm phát và thất nghiệp. Điều này rất đáng được giải thích thêm. Những rủi ro và hệ quả của việc nâng lãi suất cao hơn để hạ nhiệt lạm phát là điều ai cũng rõ", ông Charles Evans, cựu Chủ tịch Fed chi nhánh Chicago nhận xét.
Sự đánh đổi giữa việc ít việc làm hơn và lạm phát giảm bớt không phải lúc nào cũng diễn ra kịch tính.
Đợt hạ nhiệt từ mức lạm phát cao thời kỳ đại dịch COVID-19 chỉ tạo ra mức tăng trưởng việc làm không đáng kể về tỷ lệ thất nghiệp. Giữa việc các công ty ngần ngại sa thải nhân sự - những người từng rất khó tuyển dụng trong thời gian đại dịch - và các chính sách nhập cư của Tổng thống Donald Trump hiện đang kìm hãm đà tăng trưởng của lực lượng lao động, tỷ lệ thất nghiệp vẫn duy trì trong biên độ thấp từ 4 - 4,3% trong hơn 2 năm qua.
Điều đó mang lại cho giới chức Fed sự tự tin rằng họ có thể nâng lãi suất mà không khiến thất nghiệp tăng đáng kể, nếu có thì cũng rất ít. Song điều này cũng đồng nghĩa với việc một con đường quen thuộc để hạ nhiệt lạm phát - đó là việc người tiêu dùng thắt chặt chi tiêu do thất nghiệp gia tăng - có thể đã bị khép lại.
Nhiều nhà hoạch định chính sách, trong đó có Chủ tịch Fed chi nhánh Richmond Tom Barkin và Chủ tịch Fed chi nhánh St. Louis Alberto Musalem, lập luận rằng lạm phát có thể giảm mà không giáng đòn mạnh vào tăng trưởng, tiêu dùng hay việc làm. Họ cho rằng một ngân hàng trung ương uy tín thực hiện triệt để các đợt tăng lãi suất có thể khiến các doanh nghiệp và hộ gia đình tiết chế nhu cầu về tiền lương và giá cả, từ đó kéo lạm phát đi xuống.
Thách thức đặt ra, theo gợi ý từ Chủ tịch Fed chi nhánh Cleveland Beth Hammack và nhiều người khác, là nhu cầu có thể đang tăng mạnh, và không chỉ nằm riêng trong các doanh nghiệp AI.
Một nhóm rộng lớn các công ty đang hưởng lợi từ cơn sốt AI, đặc biệt là những đơn vị xây dựng trung tâm dữ liệu hoặc sản xuất linh kiện cho các cơ sở này, khi sổ đặt hàng chật kín và nguồn vốn đầu tư là vô cùng cần thiết để đáp ứng nguồn cung.
Các yếu tố tác động đến lạm phát có thể xoay chiều theo hướng có lợi cho Fed, bao gồm bất kỳ giải pháp nào cho xung đột tại Trung Đông giúp hạ giá dầu, hoặc một kế hoạch xây dựng trung tâm dữ liệu có phần chừng mực hơn.
Bà Juhi Dhawan, chiến lược gia vĩ mô tại Wellington Management, cũng lưu ý về những thay đổi sắp tới trong chính sách tài khóa có thể hỗ trợ phần nào, với các khoản cắt giảm trợ cấp y tế công cộng và việc các ưu đãi thuế sắp hết hạn trị giá khoảng 0,5% GDP.
Dù vậy, điều đó không biến con đường hướng tới mục tiêu lạm phát 2% trở thành một hành trình êm ả. Bà lưu ý rằng thị trường chứng khoán ngoài nhóm các "ông lớn" hưởng lợi siêu tốc từ AI không quá vững chắc, lợi nhuận doanh nghiệp được dự báo sẽ không mấy khởi sắc vào năm tới, và có một số bằng chứng cho thấy người tiêu dùng thu nhập thấp đang cận kề ngưỡng phải thắt lưng buộc bụng.