|
Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, sáng 5/11, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh, Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự án Luật Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia.
Qua thảo luận, các ý kiến cơ bản tán thành sự cần thiết ban hành Luật Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập của Pháp lệnh năm 2007 sau gần 20 năm thi hành; đáp ứng các yêu cầu bảo vệ công trình trọng yếu, quan trọng trước những nguy cơ, thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống hiện nay. Đồng thời, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, kịp thời để bảo vệ các công trình quan trọng, nhất là hạ tầng số, hệ thống dữ liệu.
Quy định rõ thẩm quyền và giới hạn của các biện pháp bảo vệ
Nhiều đại biểu quan tâm góp ý về quy định biện pháp bảo vệ công trình trọng điểm về an ninh quốc gia. Đại biểu Vũ Minh Đạo - Đoàn ĐBQH tỉnh Lai Châu đề nghị cơ quan soạn thảo quy định rõ thẩm quyền và giới hạn của các biện pháp bảo vệ có tác động đến quyền của người dân.
Đại biểu nhận thấy, khoản 5 Điều 10 và khoản 2 Điều 28 đều cho phép áp dụng biện pháp bảo vệ chưa được pháp luật quy định, nhưng thẩm quyền và cơ chế giám sát khác nhau. Điểm c khoản 1 Điều 32 lại dùng cụm từ “khi cần thiết” khi đề cập việc hạn chế quyền, lợi ích hợp pháp. Do đó, đại biểu đề nghị chỉnh lý đồng thời ba quy định này theo khoản 2 Điều 14 Hiến pháp.
Cụ thể, tại khoản 5 Điều 10, đại biểu Vũ Minh Đạo cho rằng, nếu giữ cơ chế xử lý trường hợp đặc biệt cấp thiết, Luật cần xác định thế nào là nguy cơ trực tiếp, hiện hữu, biện pháp nào được áp dụng, trong phạm vi và thời hạn nào. Quyết định phải nêu rõ lý do, có thời hạn báo cáo cụ thể và phải chấm dứt ngay khi căn cứ áp dụng không còn. Tại khoản 2 Điều 28 và điểm c khoản 1 Điều 32, đề nghị dẫn chiếu các biện pháp đã được luật quy định, gắn với đúng thẩm quyền và điều kiện áp dụng.
Tại Điều 20, đề nghị quy định ngay trong Luật các trường hợp hạn chế đi lại, cư trú, ghi âm, ghi hình và các ngoại lệ cần thiết cho cấp cứu, cứu nạn, phòng cháy, chữa cháy. Đại biểu nhận thấy, việc giám sát bằng phương tiện kỹ thuật cần có giới hạn về phạm vi thu thập, người được truy cập và thời hạn lưu giữ dữ liệu.
Bảo đảm việc bảo vệ công trình quan trọng được thực hiện thống nhất, đúng pháp luật
Trong khi đó, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga - Đoàn ĐBQH thành phố Hải Phòng cho rằng, cần xác định giới hạn của biện pháp bảo vệ cấp bách chưa được pháp luật quy định. Đồng thời, đại biểu thể hiện quan điểm và phân tích khác với ý kiến của đại biểu Vũ Minh Đạo.
Khoản 5 Điều 10 và khoản 2 Điều 28 giao Thủ tướng Chính phủ quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ chưa được pháp luật quy định trong trường hợp đặc biệt cấp thiết. Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga nhất trí với yêu cầu ứng phó nhanh với các phương thức tấn công mới. Thẩm quyền áp dụng biện pháp cấp bách của Thủ tướng cũng đã được quy định trong Luật Tổ chức Chính phủ.
Song đại biểu cho rằng, việc tiếp tục làm rõ biện pháp tổ chức, kỹ thuật để ứng phó nguy cơ không đồng nghĩa với việc đặt ra một hạn chế mới đối với quyền của người dân. Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga đề nghị bổ sung tại hai khoản này yêu cầu quyết định áp dụng phải nêu nguy cơ cụ thể, sự cần thiết của biện pháp, đối tượng, phạm vi và thời gian thực hiện; biện pháp phải được đánh giá lại và chấm dứt khi căn cứ áp dụng không còn.
“Nếu biện pháp tác động đến quyền con người, quyền công dân thì việc áp dụng phải nằm trong giới hạn do luật quy định. Việc báo cáo quyết định cần được thực hiện kịp thời, phù hợp yêu cầu bảo vệ bí mật Nhà nước”, đại biểu nêu rõ.
Theo đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga, quy định rõ ranh giới thẩm quyền và quyền của người bị tác động sẽ giúp lực lượng thực thi quyết đoán khi cần thiết, đồng thời bảo đảm việc bảo vệ công trình quan trọng được thực hiện thống nhất, đúng pháp luật.
Xác định lực lượng chủ trì, nghĩa vụ thông báo khi có đe dọa, sự cố
Một trong những nội dung được nhiều ý kiến quan tâm tại phiên thảo luận là quan hệ phối hợp giữa các lực lượng bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia. Đại biểu Nguyễn Thị Thu Hà - Đoàn ĐBQH thành phố Quảng Ninh góp ý về phối hợp bảo vệ công trình ở khu vực biên giới, biển, đảo và công trình lưỡng dụng quy định tại Điều 35 của dự thảo.
Đại biểu nhận thấy, Điều 35 mới quy định phối hợp trong giai đoạn đầu tư, vận hành và ứng phó tấn công mạng, tàu bay không người lái, chưa có quy định đối với công trình ở khu vực biên giới, biển, đảo và công trình lưỡng dụng như cảng biển, sân bay, công trình viễn thông dùng chung, nơi có nhiều lực lượng cùng hoạt động: Công an, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển, cơ quan quân sự địa phương và chính quyền cơ sở.
Thống nhất với cơ quan soạn thảo đề nghị không luật hóa theo nguyên tắc Nghị quyết số 66-NQ/TW, giao các lực lượng xây dựng quy chế phối hợp; công trình lưỡng dụng thực hiện theo Luật Quản lý, bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự, đại biểu Nguyễn Thị Thu Hà không đề nghị quy định chi tiết, nhưng cho rằng, việc xác định lực lượng chủ trì, nghĩa vụ thông báo khi có đe dọa, sự cố và yêu cầu diễn tập chung là vấn đề khung, cần có căn cứ trong Luật để tránh mỗi địa bàn một cách làm, nhất là khi xảy ra tình huống khẩn cấp.
Vì vậy, đề nghị bổ sung một khoản vào Điều 35: “Đối với công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia ở khu vực biên giới, biển, đảo và công trình lưỡng dụng, lực lượng bảo vệ của Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển, cơ quan quân sự địa phương và Ủy ban nhân dân các cấp xây dựng phương án phối hợp bảo vệ, trao đổi thông tin, xử lý tình huống và tổ chức diễn tập”; nội dung chi tiết thực hiện theo khoản 4 Điều 35.
Đại biểu Nguyễn Thị Thu Hà cho rằng, hoàn thiện dự án Luật cần quán triệt ba nguyên tắc: bảo vệ an ninh quốc gia phải chủ động, chặt chẽ và từ sớm, từ xa; phân cấp phải đi đôi với trách nhiệm, thủ tục phải rõ ràng, có thời hạn; phối hợp phải xác định được đầu mối và cơ chế xử lý cụ thể.
Cùng quan điểm, đại biểu Phạm Thị Phương - Đoàn ĐBQH tỉnh Lào Cai đề nghị Điều 35 của dự thảo Luật cần cụ thể hóa cơ chế phối hợp tại khu vực biên giới giữa công an, các lực lượng thuộc Bộ Quốc phòng, trong đó có Bộ đội Biên phòng, chính quyền địa phương và đơn vị vận hành công trình.
Đại biểu Phạm Thị Phương cho rằng, cần xác định rõ đầu mối điều phối, thẩm quyền chỉ huy khi xảy ra sự cố, trách nhiệm trao đổi thông tin và huy động lực lượng hỗ trợ. Đối với công trình đi qua nhiều xã, nhiều tỉnh thì cần có phương án phối hợp thống nhất để kịp thời xử lý các tình huống phát sinh.
Đảm bảo quy định bao quát, toàn diện, xác định rõ trách nhiệm phối hợp của cơ quan, tổ chức, lực lượng
Đồng tình với các ý kiến nêu trên, đại biểu Lương Đình Hưng - Đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo nghiên cứu, cân nhắc bổ sung một khoản trong Điều 39 về trách nhiệm quản lý Nhà nước về bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia quy định theo hướng: Bộ Quốc phòng chỉ đạo các cơ quan, đơn vị lực lượng được quyền phối hợp bảo vệ các công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia nằm ở vùng biên giới, biển, hải đảo, thềm lục địa, phối hợp kiểm soát không phận, chế áp thiết bị bay không người lái, vi phạm vùng trời của công trình.
“Trên thực tế, có những công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia trên địa bàn đặc thù hoặc công trình lưỡng dụng nhưng không thuộc loại công trình quốc phòng, khu quân sự như là giàn khoan dầu khí, cảng dầu khí ngoài khơi, công trình đảo nhân tạo, cáp quang xuyên biển, các công trình quan trọng nằm trong khu vực vành đai biên giới. Cần quy định rõ trách nhiệm, cơ chế phối hợp giữa Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và các Bộ chuyên ngành để thực hiện”, đại biểu phân tích.
Do đó, đại biểu Lương Đình Hưng cho rằng, việc bổ sung quy định nêu trên nhằm đảm bảo bao quát, toàn diện, xác định rõ trách nhiệm phối hợp của cơ quan, tổ chức, lực lượng thuộc Bộ trong quản lý Nhà nước về bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia trong các khu vực đặc thù.