Bộ trưởng Tài chính lý giải áp lực lạm phát và tiến độ giải ngân vốn đầu tư công

(BĐT) - Tại phiên thảo luận ở hội trường Quốc hội ngày 31/10, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn đã làm rõ các vấn đề về kiểm soát lạm phát, huy động nguồn lực cho tăng trưởng, lập dự toán ngân sách và giải ngân vốn đầu tư công. Trong đó, áp lực giá dầu tăng, hạn chế trong công tác dự báo ngân sách và tiến độ chuẩn bị dự án tiếp tục là những vấn đề cần tập trung xử lý.

Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn phát biểu tại Quốc hội - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc
Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn phát biểu tại Quốc hội - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc

Giá dầu tăng gây sức ép lên mục tiêu kiểm soát lạm phát

Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cho biết, Bộ Tài chính sẽ tiếp thu ý kiến của các đại biểu Quốc hội để hoàn thiện nhiệm vụ, giải pháp, hướng tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế trên 10% và kiểm soát lạm phát khoảng 4,5%.

Trong 9 tháng đầu năm 2026, tăng trưởng kinh tế đạt 9,01%, trong khi lạm phát ở mức 4,52%. Theo Bộ trưởng, áp lực lên mặt bằng giá chủ yếu đến từ giá dầu tăng do xung đột địa chính trị, đứt gãy nguồn cung và ảnh hưởng đến hoạt động của các cơ sở lọc hóa dầu.

Giá dầu Brent bình quân năm 2026 được dự báo khoảng 79 USD/thùng, nhưng tại thời điểm phát biểu đã tăng lên 118-120 USD/thùng, cao hơn trên 50% so với mức dự báo.

Để hạn chế tác động đến mặt bằng giá, Chính phủ kết hợp điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, chặt chẽ nhằm ổn định tỷ giá, lãi suất với các giải pháp tài khóa hỗ trợ nền kinh tế. Các chính sách miễn, giảm thuế trong năm 2026 có quy mô khoảng 240.000 tỷ đồng, bên cạnh khoảng 120.000 tỷ đồng gia hạn thuế, nâng tổng quy mô hỗ trợ lên khoảng 360.000 tỷ đồng.

Bộ Tài chính cũng sẽ báo cáo phương án giá điện và đã báo cáo Chính phủ về việc tiếp tục lùi thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng. Bộ trưởng đồng thời đề cập phương án đưa các loại thuế đối với xăng, dầu về 0%.

Đẩy mạnh phát triển thị trường vốn, giảm phụ thuộc tín dụng

Về nguồn lực cho tăng trưởng, kế hoạch tài chính 5 năm 2026-2030 đặt mục tiêu huy động nguồn lực tương đương 40% tổng đầu tư toàn xã hội, đồng thời đưa hệ số ICOR về mức 4,5-4,8. Quy mô huy động nguồn lực trong giai đoạn này dự kiến tăng 2,21 lần so với giai đoạn 2021-2025.

Trước ý kiến về sự phụ thuộc vào thị trường tín dụng, Bộ trưởng cho biết Chính phủ đang triển khai chiến lược phát triển thị trường chứng khoán và tiếp tục trình Quốc hội sửa đổi Luật Chứng khoán.

Trong 9 tháng đầu năm 2026, huy động vốn trên thị trường tăng 15% so với cùng kỳ. Phát hành cổ phiếu ra công chúng tăng 60%, trong khi phát hành cổ phiếu riêng lẻ tăng 80%. Từ cuối năm 2025 đến thời điểm phát biểu, có 10 doanh nghiệp thực hiện IPO, huy động hơn 60.000 tỷ đồng, gấp 9 lần tổng mức huy động trong cả giai đoạn 2021-2025.

Theo Bộ trưởng, để thị trường vốn phát triển bền vững, cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý, nâng cao tính công khai, minh bạch, đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, thu hút nhà đầu tư nước ngoài và phát triển các tổ chức đầu tư chuyên nghiệp.

Thu ngân sách tăng mạnh, công tác dự toán còn hạn chế

Đề cập công tác lập dự toán ngân sách, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn thừa nhận việc dự báo còn hạn chế, khiến dự toán chưa sát với kết quả thực hiện. Năm 2025, số thực hiện tăng 36% so với dự toán và tăng 34% so với năm 2024.

Nguyên nhân chủ yếu là tăng trưởng kinh tế cao hơn dự báo ban đầu. Đầu năm, các báo cáo dự kiến tăng trưởng khoảng 5,5-6,5%, nhưng kết thúc năm đạt 8,02%.

Bên cạnh đó, thu từ đất tăng mạnh sau khi Luật Đất đai năm 2024 được Quốc hội thông qua. Năm 2025, khoản thu này đạt trên 700.000 tỷ đồng, trong đó thu từ sử dụng đất tăng khoảng 98%. Một số nguồn thu khác đến từ chênh lệch thu chi của ngân hàng, bán vốn nhà nước và cổ tức.

Về chuyển nguồn ngân sách, số liệu quyết toán năm 2025 đạt khoảng 1,8 triệu tỷ đồng, tương đương hơn 40% dự toán. Theo Bộ trưởng, tình trạng này một phần xuất phát từ việc thu ngân sách tăng mạnh vào cuối năm, trong khi nhiều dự án hạ tầng quan trọng cần vốn kéo dài qua nhiều năm để tiếp tục triển khai. Nguồn chuyển sang thực hiện chính sách tiền lương chiếm gần 30%.

Giải ngân đầu tư công đạt 62,9% sau 9 tháng

Trong 9 tháng đầu năm 2026, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công đạt 62,9%, tăng 203.000 tỷ đồng so với cùng kỳ. Tuy nhiên, vốn tạm ứng vẫn chiếm khoảng 37%, chủ yếu dành cho các công trình hạ tầng quan trọng.

Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 312 ngày 8/10, yêu cầu tăng cường kỷ luật, kỷ cương tài chính, đẩy mạnh thanh toán tạm ứng và sớm quyết toán các khoản vốn này.

Bộ trưởng cho biết, một trong những nguyên nhân khiến giải ngân chậm là thời gian chuẩn bị dự án kéo dài. Hiện một công trình nhóm B cần ít nhất 18 tháng đến 2 năm để chuẩn bị. Với các dự án sử dụng vốn ODA, quy trình còn phức tạp hơn do phải thực hiện các thủ tục liên quan đến nguồn vốn nước ngoài, thỏa thuận và ký lại hiệp định.

Do đó, việc nâng cao hiệu quả đầu tư công đòi hỏi rút ngắn thời gian chuẩn bị dự án, đẩy nhanh tổ chức thực hiện, thanh quyết toán và đưa công trình vào vận hành. Đây cũng là những khâu quan trọng nhằm giảm hệ số ICOR, hạn chế chuyển nguồn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ngân sách.

Bố trí 214.000 tỷ đồng hỗ trợ Đồng bằng sông Cửu Long

Liên quan đến nguồn lực ứng phó lũ lụt, ngập mặn, xâm nhập mặn và nước biển dâng, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cho biết kế hoạch đầu tư công giai đoạn 2026-2030 bố trí 214.000 tỷ đồng vốn hỗ trợ có mục tiêu từ ngân sách trung ương cho các vùng. Đồng bằng sông Cửu Long dự kiến còn được bố trí khoảng 56.600 tỷ đồng vốn ODA.

Tổng mức hỗ trợ dành cho khu vực này để thích ứng với biến đổi khí hậu tương đương khoảng 18% tổng hỗ trợ có mục tiêu của ngân sách trung ương trong nhiệm kỳ 2026-2030. Mức bố trí 214.000 tỷ đồng tăng gấp đôi so với 108.000 tỷ đồng của giai đoạn 2021-2025.

Bộ trưởng khẳng định Bộ Tài chính sẽ tiếp tục đàm phán với các tổ chức quốc tế để huy động thêm nguồn lực, phục vụ các chương trình ứng phó biến đổi khí hậu và nâng cao khả năng chống chịu của Đồng bằng sông Cửu Long.

Kết nối đầu tư