WB nâng dự báo tăng trưởng Việt Nam năm 2026 lên 7,4%
Ngân hàng Thế giới (WB) nâng dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2026 thêm 1,1 điểm phần trăm lên 7,4%, mức điều chỉnh tăng mạnh nhất trong khu vực Đông Á - Thái Bình Dương (EAP). Động lực chính đến từ sản xuất, xuất khẩu công nghệ cao, đầu tư công và dòng vốn FDI.
Theo báo cáo cập nhật kinh tế khu vực công bố ngày 6/10, WB cho biết kinh tế Việt Nam tăng trưởng 8,02% năm 2025 và đạt 8,3% trong nửa đầu năm 2026, tiếp tục thuộc nhóm tăng trưởng cao nhất khu vực.
Trong 8 tháng năm 2026, xuất khẩu hàng hóa tăng 22% so với cùng kỳ, riêng tháng 8 tăng 26%. Điện tử và máy móc tiếp tục là nhóm hàng xuất khẩu chủ lực. Dòng vốn FDI trong nửa đầu năm cũng đạt mức cao nhất trong 5 năm, trong khi đầu tư vào lĩnh vực điện tử, máy móc duy trì tích cực.
WB đánh giá Việt Nam đang hội nhập sâu hơn vào chuỗi cung ứng công nghệ, đặc biệt ở các sản phẩm liên quan đến trí tuệ nhân tạo (AI). Máy tính, máy chủ và bộ định tuyến chiếm khoảng 60% hàng hóa liên quan đến AI trong xuất khẩu của Việt Nam.
Làn sóng đầu tư AI toàn cầu đang mở rộng cơ hội cho các nền kinh tế tham gia chuỗi cung ứng công nghệ. Theo WB, Việt Nam cùng Trung Quốc, Indonesia, Malaysia, Philippines và Thái Lan đã xuất khẩu khoảng 1.400 tỷ USD hàng hóa liên quan đến AI trong 12 tháng tính đến tháng 4/2026.
Bên cạnh xuất khẩu, đầu tư công tiếp tục được xem là động lực quan trọng, tập trung vào năng lượng, giao thông và logistics.
Tuy nhiên, WB dự báo tăng trưởng Việt Nam giảm nhẹ xuống 7,3% trong năm 2027 và 2028. Áp lực lạm phát, nhập khẩu tăng nhanh và rủi ro từ sự phụ thuộc vào chuỗi cung ứng AI là những yếu tố cần theo dõi.
Lạm phát tăng từ 2,53% tháng 1 lên 4,89% tháng 8, khiến WB dự báo bình quân cả năm 2026 ở mức 4,2%. Trong khi đó, nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu, còn dự trữ ngoại hối được dự báo tương đương dưới 2 tháng nhập khẩu.
WB cho rằng nếu xu hướng tăng trưởng toàn cầu nhờ AI tiếp tục duy trì, Việt Nam sẽ hưởng lợi từ vị trí trong chuỗi cung ứng công nghệ. Ngược lại, nền kinh tế có thể chịu tác động nếu kinh tế toàn cầu hoặc nhu cầu công nghệ, AI suy yếu.
Chấm điểm KPI giải ngân đầu tư công chính thức áp dụng từ tháng 10
Từ tháng 10/2026, việc chấm điểm KPI giải ngân đầu tư công sẽ chính thức được thực hiện trên hệ thống tự động, nhằm bảo đảm tính khách quan, minh bạch và hạn chế tối đa yếu tố chủ quan trong đánh giá.
Thông tin trên được bà Nguyễn Thị Quế Hương, Phó Vụ trưởng Vụ Phát triển hạ tầng (Bộ Tài chính), cho biết tại họp báo thường kỳ quý III/2026 ngày 6/10.
Theo Quyết định số 1129/QĐ-TTg ngày 24/6/2026, hệ thống đã được triển khai thử nghiệm trong các tháng 6-9 để hoàn thiện phương pháp tính, phần mềm và quy trình vận hành. Trong tháng 7 và 8, Bộ Tài chính đã chấm điểm thử nghiệm trên số liệu thực tế, công bố kết quả để các bộ, ngành, địa phương đối chiếu và phản hồi.
Bộ Tài chính cho biết toàn bộ quy trình chấm điểm sẽ được vận hành tự động trên hệ thống công nghệ thông tin. Dữ liệu đầu vào được lấy từ số liệu thực tế về giải ngân và đăng ký kế hoạch giải ngân của các bộ, cơ quan Trung ương và địa phương.
Phương án chấm điểm dựa trên 3 nhóm tiêu chí gồm: kết quả giải ngân so với tỷ lệ chung của cả nước và mục tiêu Thủ tướng giao; kết quả giải ngân thực tế so với kế hoạch vốn đơn vị đăng ký; và mức độ chấp hành chế độ báo cáo.
Để bảo đảm công bằng, hệ thống loại trừ một số khoản vốn đặc thù như phần vốn không còn nhu cầu sử dụng hoặc đã được cấp có thẩm quyền cho phép dừng thực hiện, chuyển giao cho cơ quan khác.
Kết quả chấm điểm được thực hiện định kỳ hàng tháng, hàng quý và cả năm, đồng thời tự động truyền sang hệ thống thông tin chỉ đạo, điều hành của Chính phủ. Các đơn vị được phân loại theo 4 mức: giải ngân rất tốt, tốt, trung bình và chưa tốt.
Bộ Tài chính nhấn mạnh, việc chấm điểm hàng tháng, hàng quý trước hết nhằm theo dõi, đôn đốc và giúp các đơn vị nhận diện những điểm nghẽn để kịp thời điều chỉnh. Kết quả đánh giá chính thức được xác định vào cuối năm, sau ngày 28/2 năm sau, và là một trong những tiêu chí phục vụ đánh giá hiệu quả chỉ đạo, điều hành và sử dụng vốn đầu tư công của từng đơn vị.
Thu ngân sách 9 tháng đạt gần 1,94 triệu tỷ đồng
Sau 9 tháng năm 2026, thu ngân sách nhà nước do cơ quan Thuế quản lý đạt 1.937.992 tỷ đồng, bằng 86,4% dự toán và tăng 13,1% so với cùng kỳ năm 2025. Cùng với đẩy mạnh thu ngân sách, ngành Thuế đang tăng tốc chuyển đổi số, quản lý dựa trên dữ liệu và rủi ro.
Theo Cục Thuế (Bộ Tài chính), dự toán thu ngân sách năm 2026 được giao là 2.242.966 tỷ đồng, trong đó thu dầu thô 43.000 tỷ đồng và thu nội địa 2.199.966 tỷ đồng. Riêng tháng 9, số thu ước đạt 140.800 tỷ đồng.
Qua công tác kiểm tra thuế, tổng số tiền kiến nghị xử lý đạt 58.968 tỷ đồng, gồm 18.532 tỷ đồng tăng thu, 1.836 tỷ đồng giảm khấu trừ và 38.600 tỷ đồng giảm lỗ.
Công tác hoàn thuế giá trị gia tăng (GTGT) cũng được đẩy nhanh. Đến giữa tháng 9, cơ quan Thuế đã ban hành hàng chục nghìn quyết định hoàn thuế, với số tiền hơn 140.000 tỷ đồng, tăng mạnh so với cùng kỳ. Quy trình hoàn thuế đang chuyển từ xử lý thủ công sang điện tử hóa, tự động hóa và quản lý rủi ro, trên cơ sở phân tích dữ liệu người nộp thuế, hóa đơn và giao dịch.
Trong lĩnh vực thương mại điện tử và hộ kinh doanh, số thuế từ các tổ chức, cá nhân kinh doanh 9 tháng đạt gần 224.700 tỷ đồng, tăng 26,6%. Đến giữa tháng 9, có 3,53 triệu hộ, cá nhân kinh doanh đăng ký thuế; 99,6% tờ khai được nộp điện tử. Tổng số hóa đơn điện tử được tiếp nhận, xử lý từ khi triển khai đạt gần 30,2 tỷ hóa đơn.
Ngành Thuế cũng đẩy mạnh chiến dịch “Làm sạch mã số thuế - Tháo gỡ điểm nghẽn trong kinh doanh”. Đến hết tháng 8, gần 125.000 doanh nghiệp, chi nhánh và tổ chức đã hoàn tất thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế; hơn 52.000 trường hợp được xác nhận hoàn thành nghĩa vụ thuế để tiếp tục thủ tục giải thể.
Ấn Độ điều tra 24 chương trình trợ cấp đối với ống đồng Việt Nam
Tổng vụ Phòng vệ thương mại Ấn Độ (DGTR) vừa khởi xướng điều tra chống bán phá giá và chống trợ cấp đối với sản phẩm ống, ống dẫn bằng đồng rãnh trong (IGT) nhập khẩu từ Việt Nam, Trung Quốc và Thái Lan.
Theo Cục Phòng vệ Thương mại (Bộ Công Thương), vụ việc được tiến hành trên cơ sở đơn kiện của Công ty đồng Metube, nhà sản xuất duy nhất sản phẩm bị điều tra tại Ấn Độ trong thời kỳ điều tra. Nguyên đơn cho rằng sản phẩm từ 3 quốc gia đang được bán phá giá và nhận trợ cấp, gây ảnh hưởng đáng kể đến ngành sản xuất nội địa.
Sản phẩm bị điều tra thuộc các mã HS 7411 10 00, 7411 21 00, 7411 22 00 và 7411 29 00. Thời kỳ điều tra chống bán phá giá và chống trợ cấp kéo dài từ ngày 1/4/2025 đến 31/3/2026; thời kỳ điều tra thiệt hại gồm các giai đoạn 2022-2023, 2023-2024, 2024-2025 và thời kỳ điều tra hiện tại.
Đáng chú ý, DGTR đã khởi xướng điều tra 24 chương trình trợ cấp đối với Việt Nam, bao gồm các chính sách ưu đãi về thuế, tín dụng, xúc tiến thương mại và việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ dưới giá thông thường.
Kết quả xem xét sơ bộ cho thấy có dấu hiệu về biên độ bán phá giá dương và vượt ngưỡng tối thiểu đối với sản phẩm IGT nhập khẩu từ cả Việt Nam, Trung Quốc và Thái Lan.
Về thiệt hại, DGTR cho rằng lượng nhập khẩu từ các nước bị điều tra tăng liên tục và chiếm tỷ trọng lớn tại thị trường Ấn Độ. Giá nhập khẩu được cho là thấp hơn chi phí và giá bán của ngành sản xuất nội địa, gây sức ép lên giá và làm gia tăng tồn kho.
Cục Phòng vệ Thương mại lưu ý doanh nghiệp Việt Nam cần đăng ký bên liên quan và nộp bản trả lời câu hỏi trong 37 ngày kể từ ngày 29/9/2026. Ý kiến về phạm vi sản phẩm bị điều tra phải được gửi trong 15 ngày.
Cơ quan này khuyến nghị doanh nghiệp nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ việc, chủ động chuẩn bị nguồn lực, phối hợp với cơ quan điều tra và bảo đảm cung cấp thông tin đầy đủ, đúng hạn. Trường hợp không hợp tác, DGTR có thể sử dụng dữ liệu bất lợi có sẵn để tính toán mức thuế, làm gia tăng nguy cơ bị áp dụng mức thuế cao.
Hà Nội và TP.HCM quy hoạch hơn 2.000km đường sắt đô thị
Theo quy hoạch, Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh sẽ phát triển mạng lưới đường sắt đô thị với tổng chiều dài khoảng 2.003km, trong đó nhiều tuyến đang được đầu tư, chuẩn bị đầu tư nhằm giảm ùn tắc giao thông và mở rộng không gian phát triển đô thị.
Theo Bộ Xây dựng, Hà Nội được quy hoạch 18 tuyến đường sắt đô thị, tổng chiều dài khoảng 979km, trong đó 11 tuyến đang được đầu tư với tổng chiều dài khoảng 427km.
Một số dự án trọng điểm đang triển khai gồm tuyến số 3.1 Nhổn - ga Hà Nội, đã hoàn thành đoạn trên cao và đang thi công đoạn hầm; tuyến số 2.1 Nam Thăng Long - Trần Hưng Đạo, khởi công tháng 10/2025; tuyến số 5 Văn Cao - Hòa Lạc, khởi công tháng 12/2025.
Hà Nội cũng đang chuẩn bị đầu tư nhiều tuyến, trong đó có tuyến số 1 kết nối khu vực phía Nam, ga Hà Nội, Yên Viên và sân bay Nội Bài; tuyến số 2 kết nối sân bay Nội Bài - Trần Hưng Đạo - Thượng Đình; tuyến số 8 Hòa Lạc - Sơn Đồng - Mai Dịch - Lĩnh Nam - Dương Xá; tuyến số 14 và tuyến số 10. Một số tuyến khác dự kiến khởi công từ năm 2027.
Tại Thành phố Hồ Chí Minh, quy hoạch mạng lưới đường sắt đô thị gồm 28 tuyến, tổng chiều dài khoảng 1.024km. Thành phố ưu tiên triển khai 8 tuyến trong giai đoạn 2026-2030, tổng chiều dài khoảng 305km.
Trong số này, 6 dự án đang lập báo cáo nghiên cứu khả thi, gồm tuyến Thủ Thiêm - Long Thành, tuyến số 1 Thành phố mới Bình Dương - Suối Tiên, giai đoạn 1 tuyến số 6, tuyến Bến Thành - Cần Giờ, tuyến số 2 Thủ Dầu Một - TP.HCM và tuyến số 4 Đông Thạnh - Hiệp Phước, phấn đấu khởi công trong năm 2026.
Hai dự án khác đang triển khai là tuyến số 2 Bến Thành - Tham Lương và tuyến số 2 Bến Thành - Thủ Thiêm. Trong đó, tuyến Bến Thành - Tham Lương có tổng mức đầu tư điều chỉnh 55.179 tỷ đồng, đã khởi công từ tháng 1/2026 và dự kiến hoàn thành năm 2030. Tuyến Bến Thành - Thủ Thiêm có tổng vốn khoảng 36.700 tỷ đồng, khởi công tháng 4/2026 và dự kiến đưa vào khai thác năm 2030.
Bộ Xây dựng sẽ phối hợp với các bộ, ngành và hai thành phố tháo gỡ vướng mắc về quy hoạch, tiêu chuẩn, nguồn vốn, giải phóng mặt bằng và thủ tục đầu tư, tạo điều kiện đẩy nhanh tiến độ các dự án đường sắt đô thị.