Xuất nhập khẩu năm 2026 ước đạt 1.110 tỷ USD
Xuất nhập khẩu của Việt Nam năm 2026 dự kiến đạt 1.110 tỷ USD, tăng 30,4% và lần đầu tiên vượt mốc 1.000 tỷ USD. Đây là một trong những điểm sáng của bức tranh kinh tế - xã hội được Thủ tướng Lê Minh Hưng báo cáo tại phiên khai mạc Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, sáng 17/10.
Theo báo cáo của Chính phủ, năm 2026, kinh tế Việt Nam đạt nhiều kết quả quan trọng trong bối cảnh kinh tế thế giới diễn biến phức tạp, cạnh tranh chiến lược gia tăng, xung đột làm gián đoạn chuỗi cung ứng và giá nhiều mặt hàng chiến lược tăng cao. Dự kiến, cả nước đạt và vượt 14/15 chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu.
Tăng trưởng kinh tế tiếp tục cải thiện qua từng quý. GDP quý III tăng 9,95%, đưa mức tăng trưởng 9 tháng lên 9,01%, thuộc nhóm cao của khu vực và thế giới. Trong đó, công nghiệp - xây dựng tăng 11,21%, cao nhất kể từ năm 2015. Lạm phát được kiểm soát, CPI bình quân 9 tháng tăng 4,52%.
Thu ngân sách nhà nước cả năm ước đạt 3,06 triệu tỷ đồng, tăng 14%. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong 9 tháng đạt 3,11 triệu tỷ đồng, tăng 15,1%; giải ngân đầu tư công đạt gần 643.000 tỷ đồng, tương đương 63% kế hoạch.
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đăng ký đạt 50,36 tỷ USD, tăng 76,4%, mức cao nhất kể từ năm 2021. Dòng vốn tập trung vào các lĩnh vực chế biến, chế tạo, công nghệ cao, điện tử và bán dẫn. Du lịch cũng phục hồi tích cực với 17,7 triệu lượt khách quốc tế trong 9 tháng, tăng 14,5%.
Bên cạnh kết quả đạt được, Chính phủ nhìn nhận cơ cấu xuất nhập khẩu chưa bền vững, khả năng tiếp cận đất đai và tín dụng của doanh nghiệp nhỏ và vừa còn hạn chế. Điều hành kinh tế vĩ mô vẫn chịu áp lực từ tỷ giá, lãi suất và biến động bên ngoài.
Trong những tháng cuối năm, Chính phủ đặt mục tiêu phấn đấu đạt cao nhất các chỉ tiêu đề ra, nhất là mục tiêu tăng trưởng hai con số gắn với ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát.
Các nhiệm vụ trọng tâm gồm điều hành linh hoạt chính sách tài khóa, tiền tệ; giảm lãi suất cho vay; bảo đảm nguồn cung điện, xăng dầu; thúc đẩy xuất khẩu, kích cầu tiêu dùng và du lịch cuối năm. Chính phủ đồng thời yêu cầu đẩy nhanh giải ngân đầu tư công, thúc đẩy đầu tư tư nhân, thu hút FDI và tháo gỡ vướng mắc cho các dự án tồn đọng.
Theo báo cáo, những kết quả năm 2026 tạo nền tảng cho giai đoạn phát triển mới, song việc nâng cao chất lượng tăng trưởng, đổi mới mô hình phát triển và tăng tính bền vững của hoạt động xuất nhập khẩu vẫn là những yêu cầu cần tiếp tục tập trung thực hiện.
Đề xuất hoàn thiện cơ chế tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa
Tại phiên thảo luận tổ chiều 17/10, nhiều đại biểu Quốc hội đề nghị dự thảo Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) cần quy định cụ thể cơ chế hỗ trợ vốn, chia sẻ rủi ro tín dụng và tiêu chí lựa chọn đối tượng thụ hưởng, bảo đảm chính sách thiết thực, hiệu quả.
Dự thảo Luật gồm 4 chương, 35 điều, quy định về nguyên tắc, chính sách, nguồn lực và hệ sinh thái phát triển DNNVV. Các đại biểu cơ bản đồng tình với sự cần thiết ban hành luật mới thay thế Luật Hỗ trợ DNNVV năm 2017, nhằm khắc phục những bất cập hiện hành và tạo nền tảng pháp lý ổn định cho doanh nghiệp.
Đại biểu Nguyễn Khánh Vũ (Quảng Trị) cho rằng, khó khăn lớn của DNNVV là tiếp cận vốn vay do thiếu tài sản bảo đảm. Trong khi đó, dự thảo không còn quy định cụ thể một số công cụ như bảo lãnh tín dụng, cho vay qua Quỹ Phát triển DNNVV và cấp bù lãi suất cho một số nhóm doanh nghiệp.
Đại biểu đề nghị hoàn thiện cơ chế hoạt động của các quỹ, quy định nguyên tắc chia sẻ rủi ro tín dụng và bổ sung quy định chuyển tiếp đối với các hợp đồng cho vay, bảo lãnh đang thực hiện, tránh ảnh hưởng đến quyền lợi doanh nghiệp.
Đại biểu Lê Nữ Thùy Dương (Đồng Nai) kiến nghị sớm hướng dẫn các hình thức cho vay dựa trên dữ liệu, dòng tiền, chuỗi giá trị, tài sản hình thành trong tương lai và quyền sở hữu trí tuệ. Đồng thời, cần xem xét hỗ trợ giảm tiền thuê đất phải nộp Nhà nước đối với diện tích đất bố trí cho DNNVV thuê lại trong khu công nghiệp.
Đại biểu Lò Thị Luyến (Điện Biên) đề nghị làm rõ tiêu chí xác định doanh nghiệp thuộc địa bàn miền núi, biên giới, hải đảo; nghiên cứu bổ sung doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động là người dân tộc thiểu số vào nhóm được ưu tiên hỗ trợ.
Các đại biểu cũng đề nghị rà soát dự thảo để bảo đảm thống nhất với pháp luật chuyên ngành, phòng ngừa trục lợi chính sách và bảo vệ dữ liệu cá nhân, bí mật kinh doanh. Việc sắp xếp các quỹ hỗ trợ cần đánh giá đầy đủ, bảo đảm không làm gián đoạn các khoản vay và cam kết bảo lãnh đang thực hiện.
Yêu cầu giảm lãi suất cho vay 1,5-2 điểm phần trăm cho doanh nghiệp
Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng yêu cầu Ngân hàng Nhà nước triển khai các giải pháp thực chất nhằm giảm lãi suất cho vay từ 1,5-2 điểm phần trăm đối với lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên, qua đó hỗ trợ doanh nghiệp, người dân và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Tại cuộc họp về điều hành chính sách tiền tệ những tháng cuối năm, diễn ra ngày 16/10 tại trụ sở Chính phủ, Phó Thủ tướng ghi nhận sự phối hợp giữa Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và Bộ Tài chính trong kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an toàn hệ thống tín dụng và hỗ trợ tăng trưởng.
Tuy nhiên, mặt bằng lãi suất cho vay vẫn ở mức cao, làm tăng chi phí vốn và ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng. Trong khi đó, diễn biến kinh tế thế giới tiếp tục phức tạp, tạo áp lực lên điều hành lãi suất, tỷ giá và lạm phát; nợ xấu và rủi ro ngân hàng vẫn tiềm ẩn.
Thực hiện chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và các nghị quyết, kết luận của Trung ương, đặc biệt là Kết luận số 106 ngày 15/10/2026, Phó Thủ tướng yêu cầu NHNN điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa, vừa kiểm soát lạm phát, giữ ổn định kinh tế vĩ mô, vừa hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng hai con số.
NHNN cần khẩn trương triển khai các giải pháp giảm mặt bằng lãi suất, bảo đảm thanh khoản cho hệ thống ngân hàng và chỉ đạo dòng vốn tín dụng tập trung vào sản xuất, kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên. Đồng thời, tiếp tục thực hiện các chương trình tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ, trong đó có tái cấp vốn với lãi suất hợp lý cho các ngân hàng tham gia chương trình cho vay nhà ở xã hội.
Phó Thủ tướng yêu cầu tăng cường thanh tra, kiểm tra việc chấp hành quy định về lãi suất; kịp thời chấn chỉnh, xử lý nghiêm các tổ chức tín dụng không thực hiện chỉ đạo giảm lãi suất hoặc cạnh tranh lãi suất không lành mạnh. Thống đốc NHNN chịu trách nhiệm về hiệu quả triển khai các giải pháp ổn định mặt bằng lãi suất và bảo đảm thanh khoản.
Bên cạnh giảm lãi suất, các ngân hàng phải tiết giảm chi phí, đẩy mạnh chuyển đổi số, công khai minh bạch lãi suất và nâng cao hiệu quả hoạt động. NHNN cũng được yêu cầu kiểm soát chặt chất lượng tín dụng, hạn chế nợ xấu phát sinh, đặc biệt trong lĩnh vực bất động sản; đẩy nhanh cơ cấu lại các tổ chức tín dụng yếu kém, xử lý tình trạng sở hữu chéo, sở hữu ngầm và thao túng hoạt động ngân hàng.
Các giải pháp này nhằm giảm chi phí vốn cho nền kinh tế, nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp và người dân, đồng thời bảo đảm an toàn hệ thống tài chính.
TP.HCM khởi công 49 dự án, giải ngân đầu tư công đạt 95%
TP.HCM đã khởi công 49 dự án, công trình đầu tư công và đối tác công tư (PPP) từ đầu năm 2026. Tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công đạt 95%, trong khi vốn ngân sách tham gia các dự án PPP đạt 80,7%.
Báo cáo tại hội nghị sơ kết nhiệm vụ 9 tháng đầu năm và triển khai giải pháp quý IV/2026 của UBND TP.HCM, ông Trần Quang Lâm, Giám đốc Sở Xây dựng TP.HCM, cho biết các dự án trọng điểm, cấp bách được ưu tiên bố trí vốn và đẩy nhanh giải ngân. Tuy nhiên, tiến độ đầu tư PPP của khu vực tư nhân vẫn còn hạn chế do vướng mắc về thủ tục pháp lý, hợp đồng và phương án thanh toán.
Phần lớn dự án PPP hiện triển khai theo hình thức xây dựng - chuyển giao (BT), thanh toán bằng đất kết hợp ngân sách. Vì vậy, thành phố cần hướng dẫn rõ phương thức, thời điểm giao đất và cách định giá đất để hoàn thiện phương án tài chính, phê duyệt dự án và ký kết hợp đồng.
Theo Sở Xây dựng, một số dự án chậm tiến độ do năng lực chuẩn bị hồ sơ của nhà đầu tư, đơn vị tư vấn chưa đáp ứng yêu cầu; các dự án đường sắt đô thị còn cần thêm dữ liệu thị trường quốc tế để thẩm định chi phí thiết bị và đơn giá. Tình trạng thiếu nhân lực tư vấn, vật liệu xây dựng và biến động giá cũng gây sức ép lên tiến độ.
Thành phố đang rà soát các dự án lớn, quan trọng để áp dụng cơ chế theo Luật Phát triển đô thị có hiệu lực từ ngày 16/10/2026, trong đó có việc triển khai đồng thời một số bước thủ tục và tách công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng đối với dự án cấp bách. Ngành xây dựng cũng dự kiến hoàn thiện phần mềm quản lý dự án dùng chung cho 168 phường, xã vào cuối năm nay, hỗ trợ lãnh đạo theo dõi tiến độ và nhận diện các dự án có nguy cơ chậm trễ.
Trong lĩnh vực nhà ở xã hội, TP.HCM được giao chỉ tiêu phát triển 181.000 căn đến năm 2030, trong đó năm 2026 phấn đấu hoàn thành gần 9.000 căn. Thành phố đã chấp thuận chủ trương một dự án nhà ở xã hội tại Hóc Môn với quy mô hơn 37.000 căn hộ.
Ngoài ra, TP.HCM dự kiến ban hành chính sách khuyến khích đầu tư nhà ở xã hội, nhà cho thuê trong tháng 12/2026, áp dụng từ năm 2027; đồng thời xây dựng quy định mở rộng diện miễn giấy phép xây dựng, dự kiến áp dụng từ đầu năm 2027 nhằm rút ngắn thủ tục và tạo thuận lợi cho người dân.
7 tuyến cao tốc phải bổ sung biển báo khoảng cách an toàn trước 31/10
Cục Đường bộ Việt Nam yêu cầu các đơn vị quản lý, nhà đầu tư và doanh nghiệp dự án khẩn trương rà soát, lắp đặt, bổ sung vạch kẻ đường và biển báo xác định khoảng cách an toàn giữa các xe trên 7 tuyến cao tốc, hoàn thành báo cáo trước ngày 31/10/2026.
Theo yêu cầu của Cục Đường bộ Việt Nam, các đơn vị phải phối hợp với lực lượng Cảnh sát giao thông rà soát vị trí cần lắp đặt hệ thống báo hiệu, nhằm giúp người lái xe nhận biết và tuân thủ quy định về khoảng cách an toàn, góp phần bảo đảm trật tự, an toàn giao thông.
7 tuyến cao tốc thuộc diện triển khai gồm Hải Phòng - Móng Cái, Trung Lương - Mỹ Thuận, Hà Nội - Hải Phòng, Pháp Vân - Cầu Giẽ, Diễn Châu - Bãi Vọt, TP.HCM - Trung Lương và đoạn Mỹ Thuận - Cần Thơ.
Việc lắp đặt phải tuân thủ Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về báo hiệu đường bộ QCVN 41:2024/BGTVT. Theo đó, các đơn vị bố trí vạch 7.8 xác định khoảng cách xe, kết hợp biển báo tại các mốc 0 m, 50 m, 100 m, 150 m và 200 m theo vị trí được xác định.
Cục Đường bộ Việt Nam lưu ý, việc triển khai cần căn cứ điều kiện khai thác thực tế, không thực hiện máy móc. Tại những vị trí thường xuyên ùn tắc, có độ dốc lớn, nằm trong đường cong hoặc không bảo đảm tầm nhìn, các bên cần thống nhất chưa lắp đặt vạch kẻ đường và biển báo khoảng cách.
Bên cạnh đó, các đơn vị phải kiểm tra hệ thống báo hiệu hiện có, kịp thời khắc phục vạch kẻ bị mòn, mờ và bổ sung biển báo còn thiếu, đặc biệt tại các mốc 150 m và 200 m. Hệ thống đã lắp đặt theo quy chuẩn trước năm 2024 cũng phải được rà soát, điều chỉnh phù hợp quy định hiện hành.
Về kinh phí, chi phí phát sinh trên các tuyến sử dụng ngân sách Trung ương được xem xét theo cơ chế dự án đột xuất nếu nằm ngoài hợp đồng và phạm vi bảo dưỡng thường xuyên. Với các tuyến đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP), kinh phí bổ sung có thể được tính vào phương án tài chính dự án theo quy định.
Các đơn vị quản lý, nhà đầu tư và doanh nghiệp dự án phải tổng hợp kết quả, báo cáo Cục Đường bộ Việt Nam trước ngày 31/10/2026.