Bản tin thời sự sáng 04/11

(BĐT) - Một số sự kiện nổi bật 24 giờ qua thu hút sự quan tâm của dư luận là: IIP 10 tháng năm 2026 tăng 12,4%, cao nhất giai đoạn 2019-2026; CPI tháng 10 tăng 0,20%, áp lực giá xăng dầu và dịch vụ gia tăng; Hà Nội xem xét cơ chế đặc thù phát triển đường sắt đô thị và điều chỉnh danh mục dự án nhà ở; Thu ngân sách 10 tháng đạt 96,4% dự toán năm; Bộ Công Thương duyệt khung giá phát điện nhiệt điện than dưới 200 MW...

IIP 10 tháng năm 2026 tăng 12,4%, cao nhất giai đoạn 2019-2026

Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 10 tháng năm 2026 tăng 12,4% so với cùng kỳ năm trước, mức cao nhất trong cùng kỳ giai đoạn 2019-2026. Động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ ngành chế biến, chế tạo, sản xuất và phân phối điện cùng hoạt động khai khoáng.

46a833cbb7c94a0e847f680363d08685.jpg
Chỉ số IIP 10 tháng năm 2026 tăng 12,4% so với cùng kỳ năm trước,là mức tăng cao nhất trong cùng kỳ của giai đoạn 2019-2026. Ảnh: Quang Phúc.

Theo số liệu Cục Thống kê (Bộ Tài chính) công bố ngày 3/11, IIP tháng 10/2026 ước tăng 2,3% so với tháng trước và tăng 15% so với cùng kỳ năm trước.

Tính chung 10 tháng, ngành chế biến, chế tạo tăng 13%, đóng góp 10,2 điểm phần trăm vào mức tăng chung của toàn ngành công nghiệp. Ngành khai khoáng tăng 7,1%, đóng góp 1,1 điểm phần trăm; sản xuất và phân phối điện tăng 10,6%, đóng góp 1 điểm phần trăm. Ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 9,2%.

Trong các ngành công nghiệp trọng điểm, sản xuất kim loại tăng 25,6%; sản xuất đồ uống tăng 17,5%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 15,2%; sản xuất xe có động cơ tăng 14,6%. Ngược lại, sản xuất da và các sản phẩm liên quan chỉ tăng 4,3%, trong khi khai thác than cứng và than non giảm 0,6%.

Một số sản phẩm công nghiệp chủ lực ghi nhận mức tăng cao, gồm máy tính bảng tăng 36,6%, xe máy tăng 26,8%, máy tính xách tay tăng 25,9%, ô tô tăng 25,1% và thép cán tăng 24%. Tuy nhiên, sản lượng bột ngọt giảm 6,7%, phân hỗn hợp NPK giảm 6,3%, tivi giảm 5,1% và khí hóa lỏng LPG giảm 4,9%.

Xét theo địa phương, chỉ số IIP 10 tháng tăng tại 33 địa phương, trong khi Sơn La giảm 5% so với cùng kỳ năm trước.

Thị trường lao động công nghiệp cũng ghi nhận tín hiệu tích cực. Tại thời điểm ngày 1/10/2026, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tăng 0,8% so với tháng trước và tăng 3,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, lao động ngành chế biến, chế tạo tăng 3,4%, còn ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,9%.

CPI tháng 10 tăng 0,20%, áp lực giá xăng dầu và dịch vụ gia tăng

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10/2026 tăng 0,20% so với tháng trước, chủ yếu do giá nhiên liệu tăng và một số dịch vụ thiết yếu điều chỉnh giá. Tính chung 10 tháng, CPI bình quân tăng 4,57% so với cùng kỳ năm 2025.

9cb973050e6a469b99f6ebd8dca6b8fc.jpg
CPI tháng 10 chịu ảnh hưởng từ giá xăng dầu. Ảnh: Huyền Vy.

Theo số liệu Cục Thống kê (Bộ Tài chính) công bố ngày 3/11, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính, có 7 nhóm tăng giá và 4 nhóm giảm giá trong tháng 10.

Nhóm giao thông tăng mạnh nhất, ở mức 2,66%, chủ yếu do giá xăng tăng 6,86% và dầu diesel tăng 0,75%. Diễn biến này khiến nhóm giao thông đóng góp 0,27 điểm phần trăm vào mức tăng CPI chung. Ngược lại, giá vé vận tải hành khách bằng đường hàng không giảm 10,58%, đường sắt giảm 2,39% nhờ các chương trình kích cầu trong mùa thấp điểm.

Nhóm giáo dục tăng 0,31% do một số cơ sở giáo dục điều chỉnh học phí; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,31%. Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,27%, trong khi nhóm đồ uống và thuốc lá tăng do chi phí nguyên liệu, vận chuyển duy trì ở mức cao.

Ở chiều ngược lại, nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,87%, chủ yếu do giá dịch vụ du lịch trong nước giảm 1,27% và dịch vụ lưu trú giảm 1,72%. Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,24%, góp phần kéo CPI chung giảm 0,09 điểm phần trăm. Nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,18%, còn may mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,06%.

Tính chung 10 tháng, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,61%, đóng góp 1,65 điểm phần trăm vào mức tăng CPI; nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,66%, đóng góp 1,51 điểm phần trăm. Nhóm giao thông tăng 6,98%, tác động làm CPI tăng 0,70 điểm phần trăm.

Về lạm phát cơ bản, chỉ số tháng 10 giảm 0,05% so với tháng trước nhưng tăng 4,04% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 10 tháng, lạm phát cơ bản tăng 4,24%, thấp hơn mức tăng 4,57% của CPI bình quân chung.

Hà Nội xem xét cơ chế đặc thù phát triển đường sắt đô thị và điều chỉnh danh mục dự án nhà ở

Sáng 4/11, HĐND TP. Hà Nội dự kiến tiếp tục kỳ họp thứ bảy (kỳ họp chuyên đề) khóa XVII, nhiệm kỳ 2026-2031, để xem xét hai nghị quyết liên quan đến cơ chế đặc thù đầu tư đường sắt đô thị và điều chỉnh danh mục khu đất thực hiện dự án thí điểm nhà ở thương mại.

4c3651b5cc9c499389303e73cad687c0.png
Toàn cảnh kỳ họp thứ bảy (kỳ họp chuyên đề) HĐND TP. Hà Nội khóa XVII diễn ra ngày 28/10 - Ảnh: dbndhanoi.gov

Theo thông báo của HĐND thành phố, hai nội dung này chưa được xem xét thông qua tại phiên họp ngày 28/10 do cần giải trình, làm rõ thêm một số vấn đề.

Đối với dự thảo nghị quyết thí điểm cơ chế, chính sách đặc thù đầu tư xây dựng các tuyến đường sắt đô thị, chính sách dự kiến áp dụng trong 5 năm, nhằm tháo gỡ vướng mắc pháp lý, đáp ứng yêu cầu đẩy nhanh tiến độ các dự án quy mô lớn.

Theo báo cáo thẩm tra của Ban Đô thị, việc áp dụng hình thức hợp đồng chìa khóa trao tay đòi hỏi cơ chế triển khai phù hợp với tiến độ khẩn trương. Tuy nhiên, do các dự án sử dụng nguồn lực ngân sách lớn và có tính chất phức tạp, thành phố cần quy định cụ thể về kiểm soát chi phí, tạm ứng, thanh toán, thu hồi vốn tạm ứng và khả năng cân đối ngân sách. Các điều khoản về chuyển giao công nghệ, trách nhiệm của nhà thầu và phương án quản lý, vận hành sau đầu tư cũng cần được làm rõ.

Đối với dự thảo nghị quyết điều chỉnh, bổ sung danh mục khu đất thực hiện dự án thí điểm theo Nghị quyết số 171/2024/QH15 của Quốc hội, Hà Nội đã thông qua danh mục 298 khu đất với tổng diện tích 1.530,4 ha để thực hiện dự án nhà ở thương mại thông qua thỏa thuận nhận quyền sử dụng đất hoặc trên cơ sở quyền sử dụng đất hiện có.

Đến nay, 67 dự án đã được thành phố chấp thuận chủ trương đầu tư, 51 dự án đang thực hiện thủ tục đầu tư và 163 khu đất, dự án cần tiếp tục được đôn đốc triển khai.

Trên cơ sở rà soát, UBND TP. Hà Nội đề xuất đưa 11 khu đất với tổng diện tích khoảng 92,2 ha ra khỏi danh mục, đồng thời bổ sung hai khu đất tại Sóc Sơn và Yên Viên, tổng diện tích khoảng 45,5 ha, phục vụ phát triển nhà ở cho cán bộ, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp và công nhân viên quốc phòng.

Tại kỳ họp kéo dài, HĐND thành phố cũng dự kiến xem xét một số nội dung về hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp, tạo việc làm bằng hình thức giao đất dịch vụ, đất ở và điều chỉnh danh mục biệt thự nhóm 1 được xây dựng trước năm 1954.

Thu ngân sách 10 tháng đạt 96,4% dự toán năm

Thu ngân sách Nhà nước 10 tháng năm 2026 ước đạt 2.438,9 nghìn tỷ đồng, hoàn thành 96,4% dự toán năm và tăng 11% so với cùng kỳ năm trước. Trong khi đó, tổng chi ngân sách đạt 2.108,7 nghìn tỷ đồng, tăng 14,8%.

2aobor9virjgcwemsceyxx0lmyfkjtlwzu6nvbu4.jpg
Khoản thu nội địa với lũy kế mười tháng đạt 2.102,8 nghìn tỷ đồng, bằng 95,6% dự toán năm, chiếm 86,2% tổng thu (Ảnh: Vietnam+)

Theo số liệu Cục Thống kê công bố ngày 3/11, tổng thu ngân sách Nhà nước tháng 10 ước đạt 251,5 nghìn tỷ đồng. Lũy kế 10 tháng, thu ngân sách tiếp tục duy trì tiến độ tích cực, dù các chính sách miễn, giảm, gia hạn thuế, phí, lệ phí và tiền thuê đất đang được triển khai nhằm hỗ trợ doanh nghiệp, người dân và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Trong cơ cấu thu, thu nội địa tiếp tục chiếm tỷ trọng chủ đạo, với 2.102,8 nghìn tỷ đồng, bằng 95,6% dự toán năm, chiếm 86,2% tổng thu và tăng 11,4% so với cùng kỳ. Riêng tháng 10, khoản thu này ước đạt 222,3 nghìn tỷ đồng.

Thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu đạt 275,8 nghìn tỷ đồng trong 10 tháng, hoàn thành 99,2% dự toán và tăng 3,6% so với cùng kỳ. Thu từ dầu thô đạt 56,3 nghìn tỷ đồng, bằng 131% dự toán năm và tăng 38,3%.

Ở chiều chi, tổng chi ngân sách Nhà nước 10 tháng ước đạt 2.108,7 nghìn tỷ đồng, tương đương 66,8% dự toán năm. Trong đó, chi thường xuyên đạt 1.280 nghìn tỷ đồng, bằng 70,8% dự toán và tăng 2,2%; chi đầu tư phát triển đạt gần 735 nghìn tỷ đồng, hoàn thành 65,6% dự toán và tăng 49,7%. Chi trả nợ lãi đạt 90,2 nghìn tỷ đồng, bằng 74,5% dự toán, tăng 4,5% so với cùng kỳ.

Theo Cục Thống kê, nguồn chi ngân sách đã đáp ứng các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước và thanh toán nợ đến hạn; đồng thời bảo đảm chi trả tiền lương và thực hiện các chính sách an sinh xã hội.

Bộ Công Thương duyệt khung giá phát điện nhiệt điện than dưới 200 MW

Bộ Công Thương vừa phê duyệt khung giá phát điện năm 2026 đối với các nhà máy nhiệt điện than có công suất dưới 200 MW, với mức giá tối đa 2.230,51 đồng/kWh, chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng (VAT).

gia-dien.jpg
Theo quyết định, khung giá phát điện áp dụng cho các nhà máy thuộc loại hình này trong năm 2026 từ 0 đến 2.230,51 đồng/kWh. (Ảnh minh họa: Quốc Lũy/TTXVN)

Theo Quyết định số 2887/QĐ-BCT ngày 30/10/2026, khung giá phát điện áp dụng cho loại hình nhà máy này trong năm 2026 dao động từ 0 đến 2.230,51 đồng/kWh.

Các thông số được sử dụng để tính toán mức giá tối đa gồm công suất tinh 98.441 kW; suất tiêu hao nhiệt tinh ở mức tải 85% là 2.705,41 kCal/kWh; nhiệt trị than (HHV) đạt 3.784 kCal/kg. Giá than đầu vào được tính ở mức 1.726.715 đồng/tấn, đã bao gồm chi phí vận chuyển, hao hụt, điều hành và giao than.

Quyết định được ban hành trên cơ sở Luật Điện lực năm 2024, các nghị định và thông tư liên quan đến chức năng quản lý của Bộ Công Thương, cũng như quy định về hồ sơ, trình tự, thủ tục và phương pháp xác định, phê duyệt khung giá phát điện.

Trước đó, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đã có các văn bản đề nghị liên quan đến việc phê duyệt khung giá phát điện đối với loại hình nhà máy này.

Theo Điều 2 của quyết định, căn cứ khung giá được phê duyệt, EVN và đơn vị phát điện thực hiện ký kết hợp đồng mua bán điện theo quy định pháp luật về phương pháp xác định giá dịch vụ phát điện do Bộ Công Thương ban hành.

Quyết định số 2887/QĐ-BCT có hiệu lực kể từ ngày 30/10/2026.

FDI giải ngân lập kỷ lục 5 năm, đầu tư công tăng 19,8%

Mười tháng năm 2026, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thực hiện tại Việt Nam đạt 24,08 tỷ USD, tăng 13,1% so với cùng kỳ và là mức cao nhất trong 5 năm qua. Cùng với đó, vốn đầu tư công từ ngân sách Nhà nước đạt 783,9 nghìn tỷ đồng, tương đương 69% kế hoạch năm, tăng 19,8%.

dau-tu-thang.jpg
(Ảnh: Cục Thống kê)

Theo số liệu Cục Thống kê công bố ngày 3/11, riêng tháng 10, vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước ước đạt 121,6 nghìn tỷ đồng, tăng 23,7% so với cùng kỳ. Trong tổng vốn thực hiện 10 tháng, vốn do địa phương quản lý đạt 671,8 nghìn tỷ đồng, tăng 22,6%; vốn do Trung ương quản lý đạt 112,1 nghìn tỷ đồng, tăng 5,6%.

Tuy nhiên, tiến độ giải ngân tại một số bộ, ngành vẫn còn hạn chế. Vốn thực hiện của Bộ Xây dựng giảm 48,3%; Bộ Nông nghiệp và Môi trường giảm 48,5%; Bộ Giáo dục và Đào tạo giảm 25,6% so với cùng kỳ.

Ở khu vực đầu tư nước ngoài, vốn FDI giải ngân đạt 24,08 tỷ USD, tăng 13,1%. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò chủ lực khi thu hút 19,96 tỷ USD, chiếm gần 83% tổng vốn thực hiện.

Vốn FDI đăng ký cấp mới đạt 30,73 tỷ USD từ 3.478 dự án, tăng 4,7% về số lượng và gấp 2,2 lần về vốn. Singapore dẫn đầu với 9,52 tỷ USD, chiếm 31% tổng vốn đăng ký mới; tiếp theo là Hàn Quốc với 5,81 tỷ USD và Luxembourg với 4,99 tỷ USD.

Ngoài ra, vốn đăng ký điều chỉnh tăng thêm đạt 16,13 tỷ USD, tăng 33,2%; hoạt động góp vốn, mua cổ phần đạt 7,99 tỷ USD, tăng 49,6%. Tổng vốn FDI đăng ký mới và điều chỉnh đạt 46,86 tỷ USD, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm 24,19 tỷ USD.

Ở chiều ngược lại, tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài đạt 3,41 tỷ USD, cao gấp 3,1 lần cùng kỳ. Lào là điểm đến dẫn đầu với 670,9 triệu USD, tiếp đến là Cộng hòa Dominica và Campuchia.

Kết nối đầu tư