Điện khí LNG chờ “mở khóa”

0:00 / 0:00
0:00

(BĐT) - Trong loạt dự án nhiệt điện sử dụng khí hóa lỏng LNG đang được triển khai tại khu vực duyên hải miền Trung, có dự án đã hoàn tất chủ trương đầu tư, tiến hành xây dựng, nhưng vẫn ngóng chờ tháo gỡ những điểm nghẽn về cơ chế tài chính, hình thức mua bán điện…

Nhà máy Nhiệt điện LNG Nhơn Trạch 3 và 4 đã đi vào vận hành. Ảnh: Hà Minh
Nhà máy Nhiệt điện LNG Nhơn Trạch 3 và 4 đã đi vào vận hành. Ảnh: Hà Minh

Các “siêu” dự án tỷ đô

Nhờ lợi thế có cảng nước sâu, Thanh Hóa là tỉnh đầu tiên của vùng Bắc Trung Bộ thu hút đầu tư dự án nhiệt điện LNG tại Nghi Sơn. Với tổng mức đầu tư hơn 57.524 tỷ đồng, công suất 1.500 MW, theo tính toán, mỗi năm Nhà máy Nhiệt điện LNG Nghi Sơn sẽ đóng góp khoảng 9 tỷ kWh cho hệ thống điện quốc gia; gần 80.000 tỷ đồng sẽ được đóng góp vào ngân sách nhà nước trong suốt vòng đời Dự án. Tuy nhiên, việc tìm kiếm nhà đầu tư cho Dự án gặp nhiều khó khăn với 3 lần hủy thầu.

Giáp ranh Thanh Hóa, Nghệ An có Dự án LNG Quỳnh Lập do Liên danh Công ty SK Innovation - Tổng công ty Điện lực Dầu khí Việt Nam - Công ty TNHH Mía đường Nghệ An thực hiện, khởi công dịp 19/5/2026, tổng vốn đầu tư 59.372 tỷ đồng, công suất 1.500 MW. Ông Phùng Thành Vinh, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An cho biết, Tỉnh đã yêu cầu Liên danh nhà đầu tư phối hợp với các cơ quan chuyên môn của Tỉnh khẩn trương hoàn thành thủ tục đầu tư, đưa Dự án vào vận hành trước năm 2030.

Tại Hà Tĩnh, địa phương đề xuất Dự án Nhà máy điện khí LNG Vũng Áng III, 1.500 MW giai đoạn đến năm 2030. Đề xuất giới thiệu Tổng công ty Điện lực Dầu khí Việt Nam (PV Power) là nhà đầu tư chính.

Tại Quảng Trị, Dự án LNG Quảng Trạch II (tổng mức đầu tư hơn 52.490 tỷ đồng) đang trên đà tăng tốc khi giữa tháng 2/2026, Ban Quản lý dự án điện 2 và Liên danh PowerChina - LILAMA hoàn tất ký hợp đồng Gói thầu EPC trị giá hơn 25.202 tỷ đồng cho Dự án thành phần 1 (Nhà máy điện). Bên cạnh LNG Quảng Trạch II, Dự án LNG Quảng Trạch III cũng đang được triển khai trên tổng diện tích khoảng 74 ha, tổng mức đầu tư sơ bộ 41.826 tỷ đồng.

Cũng tại Quảng Trị, Liên danh T&T - Công ty CP Năng lượng Hanwha (HEC) - Tổng công ty Khí Hàn Quốc (KOGAS) - Tổng công ty Điện lực Nam Hàn Quốc (KOSPO) đang triển khai Dự án LNG Hải Lăng theo 2 giai đoạn với tổng công suất 3.600 - 4.500 MW, tổng vốn đầu tư 59.202 tỷ đồng.

Tại Nam Trung Bộ, bước chuyển gần đây nhất là Sở Công Thương tỉnh Khánh Hòa đã công bố hợp đồng đầu tư kinh doanh Dự án Nhà máy Nhiệt điện LNG Cà Ná (công suất 1.500 MW, diện tích sử dụng đất 139,76 ha, tổng mức đầu tư 57.835 tỷ đồng) và hợp đồng tín dụng Dự án Khu bến cảng Cà Ná giai đoạn 1.

Đối với Lâm Đồng, sự hiện diện của 2 dự án nhiệt điện LNG Sơn Mỹ I, Sơn Mỹ thuộc Trung tâm Điện lực Sơn Mỹ có tổng công suất 4.500MW, tổng vốn đầu tư gần 100.000 tỷ đồng được kỳ vọng tạo bước đột phá về hạ tầng năng lượng. Được biết, Dự án LNG Sơn Mỹ I do EDF (Pháp) - Kyushu Electric - Sojitz (Nhật Bản) cùng đối tác Việt Nam thực hiện; Dự án LNG Sơn Mỹ II do Tập đoàn AES (Hoa Kỳ) làm chủ đầu tư.

Cần mở nhiều “khóa”

Tại Hội thảo “Phát triển điện khí LNG bảo đảm an ninh năng lượng cho tăng trưởng hai con số” do Bộ Công Thương phối hợp với UBND TP. Đà Nẵng tổ chức mới đây, ông Bùi Quốc Hùng, Phó Cục trưởng Cục Điện lực (Bộ Công Thương) cho biết, công nghệ điện khí LNG hiện nay về cơ bản đã tương đối hoàn thiện và có nhiều lựa chọn trên thị trường quốc tế. Vấn đề khó hơn nằm ở cấu trúc kinh tế của dự án. LNG là nhiên liệu nhập khẩu. Giá LNG chịu ảnh hưởng của thị trường quốc tế, chi phí vận chuyển, tỷ giá và các yếu tố địa chính trị. Trong khi đó, dự án điện khí lại là dự án có vốn đầu tư rất lớn, vòng đời dài và cần có khả năng huy động vốn dài hạn.

Từ thực tiễn triển khai, Cục Điện lực cho rằng, có ít nhất 5 nhóm vấn đề cần được quan tâm: cơ chế hợp đồng và huy động điện phải tạo được sự ổn định cần thiết; sự đồng bộ hạ tầng LNG (cần có hạ tầng dùng chung); tính đồng bộ của dự án LNG với hạ tầng lưới điện; nâng cao năng lực, trách nhiệm của nhà đầu tư và phát triển nguồn điện LNG không đồng nghĩa với việc trì hoãn chuyển dịch năng lượng.

Ông Ngô Trí Long, Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam cho rằng, việc hoàn thiện cơ chế tài chính và thị trường là điều kiện quan trọng để điện khí LNG huy động vốn, vận hành hiệu quả, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng. “Có hai điểm nghẽn lớn trong việc phát triển điện khí LNG là vốn và thị trường. Điện khí LNG không chỉ cần được đưa vào quy hoạch, mà quan trọng hơn là phải biến quy hoạch thành những dự án có thể huy động vốn và vận hành hiệu quả”, ông Long phân tích.

Về vốn, theo ông Ngô Trí Long, các dự án LNG cần lượng vốn rất lớn, thời gian thu hồi dài, trong khi các yếu tố như giá điện, sản lượng, tỷ giá và trách nhiệm khi xảy ra biến động chưa thực sự rõ ràng. Khi các yếu tố chi phối chưa đủ rõ, ngân hàng khó cho vay và nhà đầu tư khó quyết định.

Ở phía thị trường, giá LNG nhập khẩu biến động mạnh; cách thức mua LNG và tính giá điện chưa thật rõ; việc huy động nhà máy cần minh bạch; kho cảng, đường ống phải đảm bảo khả năng tiếp cận công bằng. Nếu thiếu minh bạch, chi phí cao có thể chuyển sang người sử dụng điện.

“Để phát triển điện khí LNG cần đồng thời mở hai “khóa”, gồm khóa về vốn và khóa về thị trường. Trong đó, dòng tiền phải rõ ràng, hợp đồng đủ điều kiện vay vốn; đồng thời tín hiệu giá cần minh bạch, thị trường có cạnh tranh và vận hành hiệu quả”, ông Long khuyến nghị.

Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, giai đoạn 2025 - 2035, cả nước sẽ có 22 dự án điện khí LNG được xây dựng, đưa vào vận hành; riêng từ nay đến năm 2030 có 15 dự án triển khai, đưa vào vận hành thương mại. Trong đó, hiện đã có Dự án Nhà máy Nhiệt điện LNG Nhơn Trạch 3 và 4 đi vào vận hành thương mại.

Từ yêu cầu thực tiễn và định hướng trong giai đoạn tới, Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Sinh Nhật Tân nhận định, có 3 nhóm giải pháp chính đối với điện khí LNG đang và sẽ triển khai. Thứ nhất là về thể chế, đã tương đối đầy đủ nhưng sẽ có điều chỉnh, cập nhật để phù hợp với tình hình mới. Bộ Công Thương đang xây dựng và sẽ trình Quốc hội Luật Điện lực (sửa đổi). Thứ hai là về quy hoạch, Bộ Công Thương đề nghị các địa phương nghiên cứu, rà soát, chia các nhóm dự án trong số dự án chưa triển khai theo tính khả thi, ít khả thi và không khả thi theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh để có hướng xử lý. Thứ ba, các doanh nghiệp, nhà đầu tư cần có ý kiến sát sườn, thực tế để có cơ chế, chính sách hiệu quả, thiết thực. Trên tinh thần đó, các bộ, ngành trung ương mới có giải pháp hỗ trợ phát triển nguồn điện và nguồn khí LNG.

Kết nối đầu tư