Gỡ điểm nghẽn, khơi dòng vốn phát triển điện gió

0:00 / 0:00
0:00

(BĐT) - Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, mục tiêu đến năm 2030 của Việt Nam là phát triển khoảng 26.066 - 38.029 MW điện gió trên bờ và gần bờ, cùng khoảng 6.000 - 17.032 MW điện gió ngoài khơi (vận hành giai đoạn 2030 - 2035). Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu này, vẫn còn nhiều “điểm nghẽn” cần được khơi thông nhằm thúc đẩy dòng vốn đầu tư vào lĩnh vực năng lượng tái tạo, góp phần đáp ứng nhu cầu điện cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số.

Việt Nam có ưu thế vượt trội về phát triển công nghệ điện gió móng cố định gần bờ nhờ thềm lục địa rộng và mực nước biển nông. Ảnh: Gia Khoa
Việt Nam có ưu thế vượt trội về phát triển công nghệ điện gió móng cố định gần bờ nhờ thềm lục địa rộng và mực nước biển nông. Ảnh: Gia Khoa

Nhiều điểm nghẽn cần tháo gỡ

Đánh giá về tiềm năng, cơ hội phát triển điện gió của Việt Nam trước thềm Hội nghị Năng lượng gió châu Á - Thái Bình Dương 2026 dự kiến tổ chức tại Hà Nội vào đầu tháng 6, các chuyên gia năng lượng, nhà đầu tư trong nước và quốc tế đều cho rằng, Việt Nam có tiềm năng lớn để phát triển ngành.

Ông Bùi Vĩnh Thắng, Giám đốc Quốc gia tại Việt Nam của Hội đồng Năng lượng gió toàn cầu (GWEC) nhìn nhận, Việt Nam có tiềm năng điện gió ngoài khơi rất lớn. Với tính chất phần lớn là điện gió móng cố định vì thềm lục địa khá nông, chi phí đầu tư tại Việt Nam thấp hơn so với các nền kinh tế phải dùng móng nổi như Hàn Quốc, Nhật Bản hay Đài Loan. Đối với điện gió trên bờ, mục tiêu 26.066 - 38.029 MW của nước ta là rất tham vọng nhưng sẽ khả thi nếu có chính sách thông suốt và cơ chế thúc đẩy chuỗi cung ứng nội địa cũng như kết hợp với khối FDI.

Ở góc độ nhà đầu tư, ông Alessandro Antonioli, Giám đốc Quốc gia tại Việt Nam của Tập đoàn Copenhagen Infrastructure Partners (CIP) nhận định, Việt Nam có lợi thế cạnh tranh lớn nhờ nguồn tài nguyên gió ổn định, đường bờ biển dài và nhu cầu điện tăng mạnh.

Ông Ngô Tiến Đạt, Giám đốc Quốc gia tại Việt Nam của Tập đoàn Suzlon Energy (Ấn Độ) đánh giá, Việt Nam là thị trường giàu tiềm năng nhờ tốc độ tăng trưởng GDP cao, nhu cầu điện lớn và nguồn nhân lực trẻ, năng động. Đây là lý do Suzlon lựa chọn Việt Nam làm trung tâm phục vụ khu vực Đông Nam Á.

Tuy nhiên, việc triển khai các mục tiêu phát triển điện gió, đặc biệt là điện gió ngoài khơi, hiện vẫn đối mặt nhiều thách thức khi chưa có dự án nào được cấp chủ trương đầu tư chính thức.

Một trong những thách thức lớn được ông Nguyễn Tuấn, Trưởng ban Thương mại, Tổng công ty CP Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí Việt Nam (PTSC) chỉ ra là mẫu hợp đồng mua bán điện (PPA) hiện nay còn thiếu những điều khoản căn bản để bảo đảm khả năng vay vốn quốc tế. Theo ông Tuấn, các dự án điện gió ngoài khơi đều có quy mô đầu tư hàng tỷ USD. Nếu cơ chế hợp đồng không đáp ứng yêu cầu của các tổ chức tín dụng quốc tế thì việc huy động vốn sẽ rất khó khăn. “Đây là một điểm nghẽn chính sách rất lớn”, đại diện PTSC nhấn mạnh. Ngoài vấn đề vốn, đại diện PTSC cho rằng, bài toán giải tỏa công suất và hạ tầng truyền tải điện cũng đang là thách thức đáng kể.

Từ thực tế triển khai Dự án Điện gió Savan 1 nhập khẩu điện từ Lào về Việt Nam, ông Nguyễn Ngọc Tú, Giám đốc Phát triển kinh doanh IPC E&C chia sẻ, dù thời gian thi công chỉ khoảng 16 tháng nhưng quá trình triển khai đường dây tại Việt Nam gặp nhiều khó khăn do thủ tục giải phóng mặt bằng và đấu nối. Bên cạnh đó, hạ tầng lưới điện để giải tỏa công suất nhà máy cũng là “điểm nghẽn”. Theo ông Tú, Dự án chỉ có thể triển khai với công suất ở mức thấp hơn mức được phê duyệt do hạ tầng giải tỏa công suất chưa đáp ứng.

17.jpg
Nhiều nhà thầu Việt có thể tham gia các khâu như chế tạo kết cấu thép, trụ tháp, thi công, lắp đặt và logistics cho dự án điện gió. Ảnh: Nguyễn Cường

Kỳ vọng chu kỳ đầu tư mới

Dù còn thách thức, song các doanh nghiệp đánh giá thị trường điện gió Việt Nam đang bước vào chu kỳ phát triển mới khi hàng loạt chính sách quan trọng đã được ban hành trong thời gian gần đây.

Theo ông Bùi Vĩnh Thắng, khung chính sách hiện tại chưa hoàn thiện, nhưng bước đầu đã tạo điều kiện cho một số dự án khởi động. Với phân khúc điện gió ngoài khơi, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã bàn giao mặt biển để khảo sát công suất cho một số dự án cụ thể.

“Từ khi cơ chế FIT kết thúc đến đầu năm 2024, thị trường năng lượng gần như thiếu vắng một cơ chế thay thế đủ rõ ràng, khiến nhiều dự án chững lại’, đại diện GWEC nhận định. Tuy nhiên, từ năm 2024 đến nay, hàng loạt cơ sở pháp lý và chính sách mới đã được ban hành như Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, các nghị định về hướng dẫn thi hành Luật Điện lực và cơ chế mua bán điện trực tiếp, hay Nghị quyết 253/2025/QH15 về phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026 - 2030. Theo đó, những nhà đầu tư nhạy bén và bám sát thị trường đều đã sớm nhận diện được cơ hội.

Ông Thắng cho rằng, đây là thời điểm thích hợp để các nhà đầu tư và tổ chức tài chính quay trở lại thị trường. Nhiều nhà sản xuất thiết bị, nhà thầu và đơn vị cung ứng dịch vụ đã và đang chủ động đi trước một bước khi nhìn thấy tiềm năng rõ rệt từ thị trường.

Không chỉ mở ra cơ hội cho các nhà đầu tư quốc tế, quá trình phát triển điện gió được kỳ vọng thúc đẩy hình thành chuỗi cung ứng nội địa và tạo dư địa lớn cho doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào lĩnh vực năng lượng tái tạo.

Thực tế cho thấy, nhiều nhà thầu Việt có thể tham gia các khâu như chế tạo kết cấu thép, trụ tháp, thi công, lắp đặt và logistics cho dự án điện gió. Tuy nhiên, những lĩnh vực công nghệ cao như turbine, thiết bị ngoài khơi hay tàu chuyên dụng vẫn cần thêm thời gian và chính sách hỗ trợ để phát triển.

Để sẵn sàng đón sóng đầu tư, ông Nguyễn Tuấn cho biết, chiến lược của PTSC tập trung vào hai vai trò là nhà đầu tư dự án và nhà cung cấp dịch vụ (chuỗi cung ứng), phù hợp với xu hướng phát triển năng lượng xanh. Hiện PTSC tập trung vào dự án xuất khẩu điện gió ngoài khơi sang Singapore (dự án liên quốc gia). Về chuỗi cung ứng, PTSC đang mở rộng bãi chế tạo tại Vũng Tàu, đầu tư tàu chuyên dụng, thiết bị nâng hạ hạng nặng…

Dữ liệu từ Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia cho thấy, đến thời điểm này, có nhiều dự án điện tái tạo, trong đó có điện gió đã và đang được các địa phương, nhất là những địa phương sở hữu nhiều tiềm năng gió (Hà Tĩnh, Quảng Trị, Gia Lai…) tổ chức lựa chọn nhà đầu tư. Nhiều dự án điện gió thu hút sự quan tâm lớn của các nhà đầu tư như Nhà máy Điện gió Xã Trang - giai đoạn 2 (hơn 3.350 tỷ đồng); Dự án Nhà máy Điện gió Đông Hải 3 - giai đoạn 1 (hơn 1.757 tỷ đồng); Dự án Nhà máy Điện gió Bờ Ngoong (gần 3.765 tỷ đồng)…

Kết quả trên cho thấy, sức hút của thị trường điện gió Việt Nam là rất lớn. Tuy nhiên, để biến tiềm năng thành các dự án thực tế, điều quan trọng là sớm hoàn thiện cơ chế chính sách, nâng cấp hạ tầng truyền tải và tạo môi trường đầu tư ổn định, minh bạch hơn cho doanh nghiệp trong và ngoài nước. “Để phát triển ngành điện gió bền vững, cần có các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, đồng thời chính sách phải ổn định, minh bạch và có tính dự báo cao để nhà đầu tư yên tâm đầu tư”, đại diện PTSC bày tỏ.

Kết nối đầu tư