|
| Một hạng mục đầu tư tại Khu đô thị Đại học Huế. Ảnh: Trần Hòe |
Năm 1998, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Dự án Quy hoạch xây dựng Khu đô thị Đại học Huế (ĐHH) với tổng diện tích 135 ha, phân kỳ đầu tư 2 giai đoạn. Giai đoạn 1 - bước 1 được thực hiện từ năm 1999 đến 2005 với tổng mức đầu tư trên 69 tỷ đồng. Các công đoạn giai đoạn này được giao cho địa phương thực hiện đầu tư, bao gồm xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật ban đầu phục vụ Dự án.
Dự án Đền bù giải phóng mặt bằng của Khu đô thị Đại học Huế được Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt chủ trương đầu tư cuối tháng 8/2018; phê duyệt Dự án tháng 6/2020 với tổng mức đầu tư hơn 119 tỷ đồng từ ngân sách nhà nước. Mục tiêu là di dời dân cư ra khỏi các khu quy hoạch và cơ sở nội thành của Đại học Huế, thực hiện từ năm 2020 - 2022. Dự án được bố trí tổng kế hoạch vốn trung hạn là 108 tỷ đồng. Tuy nhiên, do chậm tiến độ, thời gian thực hiện Dự án phải điều chỉnh thành 6 năm (2020 - 2025). Dù vậy, đến nay, theo ông Nguyễn Vũ Quốc Huy, Quyền Giám đốc Đại học Huế, tiến độ giải phóng mặt bằng toàn Dự án mới đạt 84,81 ha, khoảng 45,23 ha đang tiếp tục triển khai nhưng gặp nhiều khó khăn, vướng mắc.
Nguyên nhân chậm tiến độ, theo Kết luận thanh tra một số dự án có khó khăn, vướng mắc tại Bộ Giáo dục và Đào tạo và Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (Dự án Đền bù giải phóng mặt bằng của Đại học Huế) của Thanh tra Chính phủ, là do việc lập, thẩm định, phê duyệt Dự án, lập báo cáo nghiên cứu khả thi có quy mô, phạm vi chưa được đánh giá đảm bảo phù hợp với quy hoạch chung, quy hoạch chi tiết được cấp có thẩm quyền phê duyệt và chủ trương đầu tư được phê duyệt. Chủ đầu tư (Bộ Giáo dục và Đào tạo, Đại học Huế) chưa phân tích, xác định mục tiêu cụ thể để lựa chọn quy mô hợp lý, chưa xác định phân kỳ đầu tư, chưa dự kiến tiến độ thực hiện Dự án cũng như xác định mối quan hệ và trách nhiệm của các chủ thể liên quan đến quá trình thực hiện Dự án…
Ngoài ra, khâu lập dự toán đền bù, giải phóng mặt bằng chưa chính xác, chưa đúng quy định, phương án tái định cư không cụ thể, rõ ràng; số liệu về số hộ bị giải tỏa và tái định cư chưa thống nhất; tổng mức đầu tư thiếu chính xác. Việc thẩm định dự án nhưng hồ sơ thẩm định không có báo cáo tổng hợp ý kiến cộng đồng dân cư nơi thực hiện dự án theo quy định; không thẩm định sự phù hợp giữa tổng mức đầu tư, khả năng huy động và cân đối nguồn vốn đầu tư công để thực hiện Dự án; chưa đánh giá tác động của Dự án đến đời sống người dân… Không những vậy, việc kiểm tra, rà soát phê duyệt và phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chi tiết Đại học Huế của cấp thẩm quyền địa phương là 113,54 ha, chênh lệch so với diện tích tại quy hoạch được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Kiểm tra thực tế khu vực quy hoạch Dự án và các khu tái định cư thuộc khu quy hoạch mới đây, ông Lê Trí Thanh - Chủ tịch UBND TP. Huế yêu cầu các đơn vị tập trung hoàn thiện thủ tục điều chỉnh quy hoạch; rà soát nhu cầu sử dụng đất, quỹ đất tái định cư và nguồn lực phục vụ công tác giải phóng mặt bằng.
“Phải rà soát tổng thể quỹ đất dành cho ký túc xá, khu giảng đường và các công trình dùng chung; nghiên cứu xây dựng trung tâm hội nghị, hội thảo quy mô lớn, đáp ứng nhu cầu hoạt động của Đại học Huế và phục vụ tổ chức các sự kiện của Thành phố, gắn với hệ thống bãi đỗ xe và không gian cảnh quan phù hợp. Việc triển khai Khu đô thị Đại học Huế cần bảo đảm sự đồng bộ giữa không gian đào tạo, nghiên cứu, các công trình phục vụ chung với hệ thống hạ tầng kỹ thuật và định hướng phát triển đô thị”, Chủ tịch UBND TP. Huế nhấn mạnh.
Kết luận của Thanh tra Chính phủ cho thấy, khó khăn, vướng mắc chính của Dự án Khu đô thị Đại học Huế là công tác giải phóng mặt bằng chậm, không đáp ứng tiến độ Dự án được phê duyệt. Cơ quan thanh tra cũng xác định, Đại học Huế thiếu trách nhiệm trong công tác quản lý, thực hiện Dự án, dẫn đến quá trình thực hiện có nhiều thiếu sót, khuyết điểm, vi phạm quy định về đầu tư công, quản lý ngân sách nhà nước, quản lý sử dụng vốn đầu tư công, thanh toán vốn đầu tư công, quy hoạch, kiểm soát thanh toán; Bộ Giáo dục và Đào tạo thiếu trách nhiệm trong việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ của người quyết định đầu tư, buông lỏng công tác theo dõi, kiểm tra, giám sát, đánh giá dự án đầu tư.