|
| Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030 phát triển 15 dự án nhiệt điện khí LNG vận hành thương mại với tổng công suất là 22.524 MW |
Ngành dầu khí Việt Nam đang đứng trước cơ hội mở rộng không gian phát triển, từ các hoạt động truyền thống sang công nghiệp năng lượng, dịch vụ kỹ thuật và những lĩnh vực năng lượng mới. Để biến cơ hội thành kết quả thực tế, nhiều ý kiến cho rằng, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện thể chế theo hướng đồng bộ, ổn định và có tính khả thi; đồng thời tháo gỡ những điểm nghẽn về cơ chế đầu tư, giá năng lượng, huy động vốn và tổ chức thực hiện dự án.
Tại Diễn đàn Phát triển công nghiệp dầu khí với chủ đề: “Đảm bảo tăng trưởng bền vững” vừa tổ chức, các đại biểu nhận định, Luật Dầu khí năm 2026 dự kiến có hiệu lực vào ngày 1/3/2027 có nhiều điểm mới “mở đường cho sự phát triển” ngành công nghiệp dầu khí, góp phần giải phóng nguồn lực đầu tư và đáp ứng yêu cầu bảo đảm an ninh năng lượng phục vụ tăng trưởng kinh tế.
Theo TS. Phan Đức Hiếu, Đại biểu Quốc hội khóa XV, XVI, người trực tiếp tham gia thẩm tra Luật Dầu khí năm 2026, trong bối cảnh hiện nay, dầu khí vẫn là nguồn năng lượng quan trọng đối với an ninh năng lượng quốc gia. Vì vậy, cần tiếp tục phát huy nguồn lực này, đồng thời mở rộng định hướng phát triển ngành theo hướng công nghiệp, khoa học và công nghệ, không chỉ phục vụ nhu cầu trong nước mà còn hướng tới thị trường khu vực và quốc tế.
Ông Hiếu cho biết, Luật Dầu khí năm 2026 có 5 điểm mới quan trọng về: phân cấp, phân quyền; cải cách, đơn giản thủ tục hành chính; thu hút đầu tư mạnh mẽ; phát triển ngành dịch vụ dầu khí; nâng cao hiệu quả hoạt động của ngành dầu khí.
Theo đó, Luật Dầu khí phân cấp, phân quyền triệt để, mạnh mẽ với nguyên tắc rõ (rõ chủ thể, rõ thẩm quyền, rõ đầu mối) và đồng bộ. “Nguyên tắc được đặt ra là khi đã tin tưởng thì cần giao quyền tương xứng, đi cùng cơ chế chịu trách nhiệm rõ ràng”, ông Hiếu nhìn nhận. Trong đó, Luật đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (PVN) về vấn đề kỹ thuật phù hợp với năng lực, phân định rõ vai trò khi là đại diện nước chủ nhà với khi là nhà thầu. Cùng với đó, Luật Dầu khí cũng đẩy mạnh cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính và đưa ra nhiều cơ chế ưu đãi vượt trội nhằm thu hút đầu tư…
Với khung pháp lý mới, nhiều ý kiến cho rằng hiệu quả thực thi cần được chứng minh bằng khả năng chuyển hóa chính sách thành các dự án đầu tư cụ thể. Dẫn câu chuyện thực tế trong việc hiện thực hóa các dự án điện khí LNG trong Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, ông Nguyễn Hùng Dũng, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội dầu khí Việt Nam, nguyên Tổng giám đốc Tổng công ty CP Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí Việt Nam (PTSC) cho hay, đến năm 2030, Việt Nam đặt mục tiêu phát triển 15 dự án nhiệt điện khí LNG vận hành thương mại với tổng công suất là 22.524 MW (chiếm khoảng 9,5% - 12,3% tổng công suất nguồn điện). Tuy nhiên, đến thời điểm này mới chỉ có Dự án LNG Nhơn Trạch 3&4 vào vận hành, còn các dự án khác (LNG Quỳnh Lập, LNG Vũng Áng…) gần như chưa được triển khai. Trong giai đoạn 2031 - 2035, theo quy hoạch có 6 dự án, song việc lựa chọn nhà đầu tư chưa đạt được kết quả cụ thể.
Theo ông Dũng, các nhà đầu tư có mong muốn tham gia phát triển dự án, nhưng nếu không có cơ chế cụ thể, không thể bảo đảm thu hồi vốn thì chắc chắn họ sẽ không tham gia. Một dự án điện LNG vốn đầu tư rất lớn, khoảng hơn 1 tỷ USD, trong khi đó, quyết định đầu tư phụ thuộc rất lớn vào khả năng bảo đảm hiệu quả tài chính. Nếu nhà máy đầu tư xong nhưng chỉ được huy động ở mức 65 - 70% công suất, trong khi cơ chế thanh toán chưa bảo đảm khả năng thu hồi các chi phí hợp lý, rủi ro đầu tư sẽ gia tăng.
Ông Dũng cho rằng, đây là bài toán khó giữa yêu cầu có giá điện hợp lý cho người tiêu dùng và thực tế chi phí đầu tư lớn của các dự án LNG. Lý do là, với dự án điện LNG, Việt Nam vẫn phụ thuộc đáng kể vào nguồn cung bên ngoài đối với những thiết bị chủ chốt như tua-bin, máy phát điện…, trong khi mức độ tham gia của doanh nghiệp trong nước vào chuỗi cung ứng còn hạn chế. Vì vậy, khả năng chủ động quyết định giá thành cũng có những giới hạn nhất định.
“Nếu không sớm xây dựng cơ chế giá phù hợp, việc triển khai các dự án LNG sẽ tiếp tục gặp khó khăn. Nhà đầu tư cần có cơ sở rõ ràng về cơ chế giá điện và các điều kiện trong hợp đồng mua bán điện để đánh giá hiệu quả tài chính trước khi quyết định đầu tư”, Phó Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam nêu thách thức. Luật Dầu khí mới tăng quyền chủ động trong quyết định đầu tư sẽ mở ra cơ hội mới cho PVN, song để triển khai được trong thực tế cần làm rõ trách nhiệm và cơ chế kiểm soát trong quá trình thực hiện.
“PVN có vị thế đặc thù khi vừa tham gia với vai trò là đại diện nước chủ nhà, vừa là chủ đầu tư, nhưng cũng có thể tham gia với tư cách nhà thầu. Nếu người đứng đầu thiếu quyết đoán, không chủ động trong tổ chức thực hiện, tiến độ dự án có thể bị chậm trễ, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế. Do đó, cùng với trao quyền, cần có cơ chế đánh giá trách nhiệm rõ ràng, tạo điều kiện để doanh nghiệp chủ động nhưng vẫn bảo đảm kiểm soát rủi ro”, ông Dũng nêu quan điểm.
Trong khi đó, ông Phạm Trường Giang, đại diện Viện Dầu khí Việt Nam cho rằng, Luật mới mở ra cơ hội mới, song vẫn cần các văn bản hướng dẫn cụ thể để doanh nghiệp có cơ sở tổ chức triển khai.
Đồng quan điểm, ông Đặng Thanh Tùng, Phó Trưởng Ban Chiến lược PVN cho biết, trong chiến lược phát triển của Tập đoàn thời gian tới, PVN xác định 3 trụ cột phát triển gồm công nghiệp, năng lượng và dịch vụ, với năm định hướng chiến lược.
Để chuyển đổi từ một ngành khai thác dầu khí sang mô hình công nghiệp năng lượng, yêu cầu đặt ra không chỉ là nâng cao năng lực nội tại mà còn phải bảo đảm tính đồng bộ của thể chế. Bên cạnh đó, cách đánh giá đóng góp của ngành cũng cần được điều chỉnh phù hợp với mô hình phát triển mới…
Một số ý kiến mong rằng chính sách mới cần chú trọng tính ổn định và khả năng dự đoán của môi trường pháp lý để nhà đầu tư có thể xây dựng kế hoạch dài hạn. Việc nâng cao năng lực doanh nghiệp trong nước và gắn ngoại giao kinh tế với chiến lược phát triển công nghiệp năng lượng được dự báo sẽ góp phần mở rộng cơ hội tiếp cận vốn, công nghệ và thị trường.