Dồn sức đầu tư nguồn và lưới điện

0:00 / 0:00
0:00

(BĐT) - Bài toán tăng trưởng GDP hai con số giai đoạn 2026 - 2030 và nguy cơ thiếu điện từ năm 2027 đang tạo sức ép lớn lên tiến độ đầu tư nguồn và lưới điện. Ngành điện cùng các tập đoàn năng lượng lớn đang phải chạy đua với thời gian, vừa tăng tốc hoàn thiện các dự án nguồn điện trọng điểm, vừa đầu tư đồng bộ các công trình lưới điện truyền tải.

Hai tổ máy của Nhà máy Nhiệt điện Quảng Trạch I với công suất 1.403 MW đã hoàn thành hòa đồng bộ và phát điện lên lưới. Ảnh: QT
Hai tổ máy của Nhà máy Nhiệt điện Quảng Trạch I với công suất 1.403 MW đã hoàn thành hòa đồng bộ và phát điện lên lưới. Ảnh: QT

Tiến độ các dự án lớn trước nguy cơ thiếu điện

Theo báo cáo của Bộ Công Thương, năm 2026, việc cung ứng điện của hệ thống điện quốc gia cơ bản được bảo đảm. Tuy nhiên, từ năm 2027, nguy cơ thiếu hụt bắt đầu xuất hiện và gia tăng nhanh.

Cụ thể, năm 2027, hệ thống điện quốc gia có thể thiếu 4.256 MW công suất và 2,9 tỷ kWh sản lượng; riêng miền Bắc thiếu 5.680 MW và 2,9 tỷ kWh. Năm 2028, mức thiếu hụt toàn quốc tăng lên 8.309 MW và 20,7 tỷ kWh, miền Bắc lần lượt là 9.678 MW và 17,3 tỷ kWh. Đến năm 2029, hệ thống điện quốc gia có nguy cơ thiếu 13.348 MW công suất và 50,4 tỷ kWh sản lượng; riêng miền Bắc thiếu 14.081 MW và 36,14 tỷ kWh. Năm 2030, các con số này lần lượt tăng lên 13.964 MW và 61,18 tỷ kWh trên toàn quốc, trong khi miền Bắc thiếu 13.026 MW công suất và 44,65 tỷ kWh sản lượng.

Những con số trên cho thấy yêu cầu bổ sung nguồn điện trở thành một trong những điều kiện không thể thiếu để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Tiến độ từng dự án nguồn đều có thể tác động đến khả năng đáp ứng phụ tải trong những năm tới.

Trong các dự án đang ở giai đoạn hoàn thiện, tổ máy số 2 của Nhà máy Nhiệt điện Quảng Trạch I vừa hòa đồng bộ thành công vào hệ thống điện quốc gia ngày 28/9/2026. Như vậy, cả hai tổ máy của Nhà máy Nhiệt điện Quảng Trạch I, mỗi tổ máy có công suất 701,5 MW, đã hoàn thành hòa đồng bộ và phát điện lên lưới.

Dự án trên có tổng mức đầu tư 42.022 tỷ đồng, tổng công suất 1.403 MW, do Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) làm chủ đầu tư, Ban Quản lý dự án điện 2 (EVNPMB2) đại diện Chủ đầu tư. Theo EVNPMB2, đến ngày 30/9, tiến độ tổng thể Dự án đạt 99,62%, với hơn 25 triệu giờ làm việc an toàn. Trước đó, tháng 5/2026, tổ máy số 1 đã đốt than lần đầu thành công và ngày 13/8 đạt 100% công suất thiết kế, tương đương 701,5 MW.

Trong các nguồn công suất lớn được chuẩn bị cho giai đoạn trung và dài hạn, Dự án Nhà máy Nhiệt điện LNG Quảng Trạch II với tổng mức đầu tư 52.490 tỷ đồng, công suất 1.612,8 MW đã ký hợp đồng EPC từ tháng 2/2026. Nhà thầu đang triển khai thiết kế kỹ thuật, dự kiến đến tháng 4/2027 triển khai xây dựng, hướng tới mục tiêu phát điện năm 2030 theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh. Dự án gồm 2 tổ máy, mỗi tổ máy có công suất 806,4 MW, sử dụng công nghệ tua bin khí chu trình hỗn hợp.

Tại Dự án Thủy điện tích năng Bác Ái, hầm thi công đã hoàn thành 100% khối lượng đào, gia cố trong quý III/2026 theo kế hoạch; khối lượng đào, gia cố nhà máy ngầm đạt 115% kế hoạch quý, trong khi hầm xả đoạn 2 đạt 386% kế hoạch quý.

Không chỉ EVN, các tập đoàn năng lượng lớn khác cũng đang đẩy nhanh tiến độ các dự án nguồn điện. Tại Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng quốc gia Việt Nam (PVN), các dự án Nhà máy Nhiệt điện Long Phú 1, Ô Môn IV… đang được triển khai; Dự án Nhà máy Nhiệt điện Ô Môn III được chuẩn bị đầu tư bên cạnh các dự án năng lượng tái tạo và chuỗi khí - điện. Các dự án nhiệt điện do Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) đầu tư cũng được thúc đẩy nhằm bổ sung nguồn điện ổn định.

Bên cạnh đó, khu vực tư nhân đang tham gia phát triển nhiều dự án nguồn điện tái tạo. Một số dự án có quy mô đáng chú ý như: Nhà máy Điện gió (MNĐG) Eco Wind Kỳ Anh công suất 498 MW; NMĐG Kỳ Anh 400 MW; NMĐG Quảng Ninh 1 công suất 200 MW.

Nhìn tổng thể, việc giải bài toán nguồn điện đang được triển khai theo nhiều lớp. Ông Nguyễn Anh Tuấn, Tổng giám đốc EVN cho hay, trong giai đoạn 2026 - 2030, ngành điện đặt mục tiêu hoàn thành 12 dự án nguồn với tổng công suất 5.160 MW, gồm: Quảng Trạch I, LNG Quảng Trạch II, Thủy điện tích năng Bác Ái, mở rộng Thủy điện Trị An, Bản Chát, Tuyên Quang, Sê San 3, Sê San 4, Đa Nhim, Quảng Trị, Srepok 3 và Buôn Kuốp.

EVN đồng thời tiếp tục triển khai các dự án nguồn mới được bổ sung trong Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, tập trung nguồn lực cho Dự án Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1; cải tạo, nâng cấp, chuyển đổi nhiên liệu và giảm phát thải tại các nhà máy nhiệt điện hiện hữu. Các nguồn điện linh hoạt, thủy điện tích năng, điện gió ngoài khơi, điện mặt trời nổi và hệ thống lưu trữ năng lượng cũng được xác định là những hướng đầu tư cần đẩy nhanh.

Đồng bộ lưới để giải tỏa công suất

Cùng với tăng tốc đầu tư nguồn điện, EVN đang đẩy mạnh đầu tư các dự án lưới điện nhằm bảo đảm đồng bộ với tiến độ đưa nguồn mới vào vận hành.

Theo lãnh đạo EVN, giai đoạn 2026 - 2030, Tập đoàn tập trung triển khai các dự án lưới điện trong Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, tăng cường năng lực truyền tải liên vùng, liên miền, đẩy nhanh hệ thống truyền tải ven biển và liên kết nhập khẩu điện với các nước trong khu vực.

Trong 8 tháng đầu năm 2026, EVN và các đơn vị đã khởi công 118 công trình và hoàn thành đóng điện 116 công trình lưới điện từ 110 kV đến 500 kV. Một số công trình quan trọng phục vụ Hội nghị APEC 2027 tại Phú Quốc cũng đã hoàn thành, trong đó có trạm biến áp 220 kV Phú Quốc và đường dây 110 kV Phú Quốc - Nam Phú Quốc.

Tại khu vực phía Bắc, EVN đang đôn đốc các dự án nhập khẩu điện từ Trung Quốc qua Quảng Tây, gồm trạm biến áp 220 kV Móng Cái, đường dây 220 kV Hải Hà - Móng Cái và tuyến đường dây từ biên giới đến Hải Hà, với mục tiêu hoàn thành trong năm 2026.

Với vai trò giải tỏa công suất cho các nhà máy thủy điện tại Lai Châu, Lào Cai, Dự án Đường dây 220 kV Than Uyên - Lào Cai đang được chỉ đạo tháo gỡ vướng mắc. Tiến độ hiện bị ảnh hưởng bởi địa hình phức tạp, khối lượng đào phá đá lớn, đường công vụ khó tiếp cận và việc bàn giao hành lang tuyến tại một số khu vực.

Để bảo đảm tiến độ, Ban Quản lý dự án các công trình điện miền Bắc yêu cầu nhà thầu huy động tối đa nhân lực, máy móc, thiết bị, ưu tiên nguồn lực cho các vị trí ảnh hưởng trực tiếp đến đường găng; tăng cường các mũi thi công tại những vị trí khó, rút ngắn thời gian hoàn thành móng, dựng cột và kéo dây.

Không gian đầu tư lưới điện đang tiếp tục được mở rộng. Trong 3 tháng gần đây, một loạt dự án đã được các địa phương chấp thuận chủ trương đầu tư. Tại Phú Thọ, Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia (EVNNPT) được chấp thuận là nhà đầu tư Dự án Đường dây 500 kV trạm cắt Hòa Bình 2 - Tây Hà Nội, Dự án Trạm biến áp 220 kV Phú Thọ 3 và đường dây 220 kV Phú Thọ 3 - rẽ Nghĩa Lộ - 500 kV Việt Trì (tổng mức đầu tư gần 1.351 tỷ đồng).

Tại Thanh Hóa, EVNNPT được chấp thuận đầu tư Dự án Đường dây 220 kV Thanh Hóa - Bỉm Sơn, vốn đầu tư hơn 879 tỷ đồng. Lâm Đồng vừa chấp thuận đầu tư Dự án Đường dây 500 kV Krông Buk - Tây Ninh 1 với tổng mức đầu tư gần 14.060 tỷ đồng.

Song song với đầu tư mới, EVN định hướng xây dựng lưới điện thông minh, lưới điện số, tăng cường giám sát và điều khiển theo thời gian thực, qua đó nâng cao khả năng tích hợp tỷ trọng lớn nguồn năng lượng tái tạo và hiệu quả vận hành hệ thống.

Các chuyên gia năng lượng cho rằng, trong giai đoạn 2026 - 2030, bài toán của ngành điện không đơn thuần là xây thêm bao nhiêu nhà máy hay bao nhiêu km đường dây, mà quan trọng hơn là bảo đảm toàn bộ chuỗi từ nguồn - lưới - lưu trữ - điều độ phát triển đồng bộ, để công suất được đưa vào đúng thời điểm và đến đúng nơi có nhu cầu.

Năng lực cung ứng điện đang ngày càng trở thành một cấu phần quan trọng của năng lực cạnh tranh và sức hấp thụ đầu tư trong nền kinh tế. Vì vậy, đẩy nhanh đầu tư các dự án điện cũng chính là đáp ứng một trong những điều kiện hạ tầng để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao trong những năm tới.

Kết nối đầu tư