(BĐT) - Tối ngày 16/9, Bộ Y tế cho biết, không ghi nhận ca mắc COVID- 19 mới, như vậy đến nay tròn 2 tuần Việt Nam không ghi nhận ca mắc ở cộng đồng. Trong số các bệnh nhân đang điều trị có 46 ca xét nghiệm âm tính từ 1-3 lần với SARS-CoV-2. Trong ngày có 5 bệnh nhân khỏi bệnh, nâng số ca khỏi tại Việt Nam lên 936 bệnh nhân.

Tính đến 18h ngày 16/9, Việt Nam có tổng cộng 691 ca mắc COVID-19 do lây nhiễm trong nước, trong đó số lượng ca mắc mới tính từ ngày 25/7 đến nay là 551 ca. Tính từ 6h đến 18h ngày 16/9 không có ca mắc mới.

Như vậy, đến nay Việt Nam cũng đã tròng 2 tuần không ghi nhận ca mắc mới COVID- 19 ngoài cộng đồng. Các địa phương có ca nhiễm cũng đã cơ bản trở lại trạng thái bình thường.

Tổng số người tiếp xúc gần và nhập cảnh từ vùng dịch đang được theo dõi sức khỏe (cách ly) là 32.417 người. Trong đó, 471 người cách ly tập trung tại bệnh viện, 15.591 người cách ly tập trung tại cơ sở khác và 16.355 người cách ly tại nhà, nơi lưu trú.

Theo báo cáo của Tiểu ban Điều trị Ban chỉ đạo Quốc gia phòng, chống dịch COVID-19 có 5 bệnh nhân được công bố khỏi bệnh, bao gồm:

+ 2 bệnh nhân tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Quảng Nam: BN839 và BN779

+ 3 bệnh nhân tại Bệnh viện dã chiến Hòa Vang: BN814, BN1009, BN1029

Các bệnh nhân này sau khi công nói khỏi bệnh sẽ tiếp tục cách ly theo dõi sức khỏe tại nhà theo quy định.

Như vậy, đến thời điểm này, nước ta đã chữa khỏi cho 936 bệnh nhân COVID-19/1.063 ca mắc.

Tính đến thời điểm này trong số các bệnh nhân COVID-19 đang điều trị tại các cơ sở y tế, số ca âm tính lần 1 với SARS-CoV-2 là 16 ca; số ca âm tính lần 2 với SARS-CoV-2 là 12 ca, số ca âm tính lần 3 là 18 ca.

Báo cáo của Tiểu ban Điều trị cũng cho biết, trong số các bệnh nhân đang điều trị hiện có 3 trường hợp có tiên lượng nặng, rất nặng và nguy kịch phải thở oxy hỗ trợ, trong đó 01 trường hợp nặng thở máy xâm nhập.

Đến thời điểm này số ca tử vong ở nước ta là 35 ca. Đa phần các trường hợp tử vong ở nước ta đều là người cao tuổi, trên nền bệnh lý nặng như suy thận mạn giai đoạn cuối, ung thư máu giai đoạn cuối không đáp ứng hoá chất, hội chứng mạch vành, suy hô hấp cấp, thoái hoá đa khớp, tăng huyết áp, suy thượng thận mạn, đái tháo đường tuyp 2, nhiễm trùng huyết, viêm phổi, suy kiệt, suy đa tạng.