Thế nào là hàng hóa “Made in Vietnam”?

(BĐT) - Việc thiếu vắng các quy định về xác định "sản phẩm của Việt Nam" hay "sản xuất tại Việt Nam” đã khiến một số doanh nghiệp trong nước lợi dụng “bắt tay” với doanh nghiệp nước ngoài gian lận xuất xứ.
Việc ban hành quy định với các tiêu chí rõ ràng sẽ giúp các doanh nghiệp chân chính không phải đối diện với nguy cơ bị cáo buộc gian lận xuất xứ. Ảnh: Lê Tiên
Việc ban hành quy định với các tiêu chí rõ ràng sẽ giúp các doanh nghiệp chân chính không phải đối diện với nguy cơ bị cáo buộc gian lận xuất xứ. Ảnh: Lê Tiên

Để lấp khoảng trống này, Bộ Công Thương vừa đưa ra lấy ý kiến Dự thảo Thông tư quy định về cách xác định sản phẩm, hàng hóa là sản phẩm, hàng hóa của Việt Nam hoặc sản xuất tại Việt Nam.

Xác định rõ các tiêu chí

Theo Bộ Công Thương, Dự thảo Thông tư được đưa ra lấy ý kiến phục vụ cho việc ghi nhãn hàng hóa và tiếp thị hàng hóa lưu thông trên thị trường Việt Nam.

Vậy khi nào hàng hóa được coi là hàng hóa của Việt Nam? Điều 7 Dự thảo Thông tư quy định, đó là khi hàng hoá có xuất xứ thuần túy hoặc được sản xuất toàn bộ tại Việt Nam theo quy định (cây trồng và các sản phẩm từ cây trồng được trồng và thu hoạch tại Việt Nam; động vật sống được sinh ra và nuôi dưỡng tại Việt Nam…). Tiếp đó là hàng hóa có xuất xứ không thuần túy hoặc không được sản xuất toàn bộ tại Việt Nam nhưng trải qua công đoạn gia công, chế biến cuối cùng tại Việt Nam làm thay đổi cơ bản tính chất của hàng hóa theo quy định (đáp ứng tiêu chí chuyển đổi mã số hàng hóa, hàm lượng giá trị gia tăng…).

Dự thảo Thông tư cũng quy định rõ 2 trường hợp không được phép thể hiện là hàng hóa của Việt Nam. Trước hết là hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam và lưu thông trên thị trường Việt Nam. Hai là hàng hóa tạm nhập vào Việt Nam để tái xuất, hàng hóa chuyển khẩu, quá cảnh Việt Nam không được phép thể hiện là hàng hóa của Việt Nam trên nhãn hàng hóa và/hoặc trên bất kỳ tài liệu, vật phẩm nào chứa đựng thông tin liên quan đến hàng hóa đó.

Bên cạnh đó, Dự thảo Thông tư cũng đưa ra 7 trường hợp cụ thể đối với hàng hóa không được coi là hàng hóa của Việt Nam nếu chỉ trải qua một hoặc kết hợp nhiều công đoạn. Điển hình như: Các công việc bảo quản hàng hoá trong quá trình vận chuyển và lưu kho (thông gió, trải ra, sấy khô, làm lạnh, ngâm trong muối, xông lưu huỳnh hoặc thêm các phụ gia khác, loại bỏ các bộ phận bị hư hỏng và các công việc tương tự); các công việc như lau bụi, sàng lọc, chọn lựa, phân loại (bao gồm cả việc xếp thành bộ), lau chùi, sơn, chia cắt ra từng phần; thay đổi bao bì đóng gói và tháo dỡ hay lắp ghép các lô hàng… 

Không phát sinh thêm chi phí cho doanh nghiệp

Dự thảo Thông tư quy định, hàng hoá được coi là hàng hóa của Việt Nam khi có xuất xứ thuần túy hoặc được sản xuất toàn bộ tại Việt Nam; hàng hóa có xuất xứ không thuần túy hoặc không được sản xuất toàn bộ tại Việt Nam nhưng trải qua công đoạn gia công, chế biến cuối cùng tại Việt Nam làm thay đổi cơ bản tính chất của hàng hóa.
Với hướng dẫn cách xác định và ghi nhãn hàng hóa Việt Nam tại Dự thảo Thông tư, Bộ Công Thương khẳng định, việc thực hiện Thông tư sẽ không làm phát sinh thêm chi phí cho doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, Thứ trưởng Bộ Công Thương Đỗ Thắng Hải cho biết: “Dự thảo Thông tư không quy định bất kỳ một thủ tục hành chính mới nào mà người dân và doanh nghiệp phải tuân thủ”.

Lý do là, ghi nhãn hàng hóa và công bố nước xuất xứ trên nhãn hàng hóa từ lâu đã là yêu cầu bắt buộc theo quy định của Nghị định số 43/2017/NĐ-CP ngày 14/4/2017 của Chính phủ về nhãn hàng hóa. Thông tư chỉ giúp các tổ chức, cá nhân có căn cứ để thực hiện đúng yêu cầu của Nghị định 43, giúp loại bỏ các trường hợp vô tình hay cố tình vi phạm thông tin về nước xuất xứ.

Cùng với đó, các doanh nghiệp chân chính sẽ không phải đối diện với nguy cơ cáo buộc gian lận xuất xứ, tránh được rủi ro kiện tụng và mất uy tín với người tiêu dùng. Ngoài ra, kết hợp với việc thực thi nghiêm túc Nghị định 43 tại cửa khẩu, Thông tư cũng sẽ giúp loại bỏ dần tình trạng hàng nhập khẩu nhập nhèm "đội lốt" hàng Việt Nam như đã rải rác xảy ra trong thời gian qua.

Trung Hiếu