Hơn 99% hộ dân nông thôn có điện

(BĐT) - Lưới điện hạ áp nông thôn trước đây là một trong những yếu tố cản trở sự phát triển kinh tế địa phương vì những yếu kém từ hạ tầng, khả năng quản lý và vận hành tại địa phương. Sau 22 năm thực hiện Nghị quyết Kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa X (tháng 11/1997), lưới điện hạ áp nông thôn được cải thiện đã đóng góp rất lớn cho việc phát triển kinh tế - xã hội các địa phương nói chung và kinh tế nông nghiệp nói riêng.
EVN đã thực hiện một khối lượng công việc khổng lồ để cải tạo và đầu tư xây dựng mới lưới điện nông thôn
EVN đã thực hiện một khối lượng công việc khổng lồ để cải tạo và đầu tư xây dựng mới lưới điện nông thôn

Tháng 11/1997 là một dấu mốc quan trọng, tạo tiền đề cho việc phát triển lưới điện hạ áp nông thôn của Việt Nam khi Nghị quyết Kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa X nêu rõ: “Giao cho ngành điện xây dựng quy chế trực tiếp quản lý lưới điện nông thôn, tính lại giá bán điện hợp lý, trước mắt công bố giá trần áp dụng đối với nông thôn; cùng các bộ hữu quan lập phương án trình Chính phủ quyết định việc đầu tư xây dựng các công trình điện nông thôn theo tinh thần "Nhà nước và nhân dân cùng làm". Và đến Nghị quyết Kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa X đã cụ thể hóa một trong những chỉ tiêu quan trọng: “Phấn đấu nâng số xã có điện lên 71%. Ban hành quy chế ngành điện lực trực tiếp quản lý lưới điện nông thôn”.

Đến nay, sau 22 năm thực hiện Nghị quyết Kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa X, ngành điện mà trực tiếp là Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đã thực hiện tốt và đưa lưới điện hạ áp nông thôn về đích trước thời gian mà Quốc hội quy định. Một mặt EVN tập trung nguồn vốn đầu tư phát triển lưới điện cấp điện cho các huyện, xã, hộ dân chưa có điện, nâng cao tỷ lệ hộ dân được sử dụng điện, một mặt tăng cường công tác quản lý cung cấp điện sau khi lưới điện được xây dựng thông qua việc tiếp nhận quản lý lưới điện hạ áp nông thôn để các hộ dân được sử dụng điện có chất lượng và mua điện theo giá do Chính phủ quy định.

Vào năm 1997, điện lưới quốc gia mới được cung cấp đến 426/470 huyện, đạt tỷ lệ 90,6%; 5.698/9.022 xã, đạt tỷ lệ 63,2% và 6.031/11.881 nghìn hộ dân nông thôn sử dụng điện lưới quốc gia. Nhưng đến năm 2010, cả nước đã có 100% số huyện có điện, năm 2018 có 100% số xã có điện và đến năm 2019 có 99,47% số hộ dân có điện, trong đó có 99,18% hộ dân nông thôn có điện. Mức độ phủ điện của Việt Nam hiện cao hơn một số nước trong khu vực như Philippines (93%), Indonesia (98,1%), Ấn Độ (92,6%), Lào (93,6%).

Tổng kết 15 năm điện khí hóa nông thôn và vận động ODA cho Việt Nam để thực hiện Chương trình Điện khí hóa nông thôn, bà Victoria Kwakwa, nguyên Giám đốc Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam cho biết, Việt Nam đã thành công rất ấn tượng trong điện khí hóa nông thôn, trở thành mô hình mà WB muốn nhân rộng ở nhiều nước.

Để có được kết quả khả quan và đáng khích lệ nói trên, EVN đã thực hiện một khối lượng công việc khổng lồ để cải tạo và đầu tư xây dựng mới lưới điện nông thôn. Tổng số vốn đầu tư lên tới hơn 120.000 tỷ đồng, trong đó riêng nguồn vốn vay ODA của các tổ chức quốc tế là hơn 78.300 tỷ đồng (tương đương 3,7 tỷ USD). Cùng với tiếp nhận lưới điện hạ áp nông thôn, EVN cũng thực hiện tiếp nhận lưới điện và cung cấp điện trực tiếp tại 11/12 huyện đảo: Cát Hải, Bạch Long Vỹ, Vân Đồn, Cô Tô, Cồn Cỏ, Lý Sơn, Phú Quý, Trường Sa, Côn Đảo, Phú Quốc, Kiên Hải. Sau khi tiếp nhận, EVN đã đầu tư tăng cường hệ thống điện, cấp điện bằng lưới điện quốc gia cho các huyện đảo với tổng vốn đầu tư hơn 7.500 tỷ đồng. 

Trong công tác quản lý cung cấp điện tại khu vực nông thôn, EVN thực hiện giải pháp phối hợp với các địa phương tập trung tiếp nhận lưới điện hạ áp nông thôn, giải quyết những bất cập khi các tổ chức quản lý điện địa phương không đủ năng lực, hộ dân nông thôn phải đóng góp nhiều chi phí và mua điện với giá cao.

Những nỗ lực của EVN đã được Đảng và Chính phủ ghi nhận, trao tặng Huân chương Lao động hạng Nhất vì những đóng góp xuất sắc trong việc thực hiện phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” giai đoạn 2011 - 2020.        

Anh Đức