(BĐT) - Theo kết quả kiểm toán các dự án đầu tư theo hình thức BOT, BT vừa được gửi đến Quốc hội, Kiểm toán Nhà nước (KTNN) kiến nghị xử lý 925 tỷ đồng với 9 dự án BOT, trong đó, giảm thời gian thu phí hoàn vốn của 7/9 dự án 56,4 năm so với phương án ban đầu. Với các dự án BT, cơ quan kiểm toán kiến nghị xử lý 5.228 tỷ đồng. 
KTNN xác định giảm hơn 823 tỷ đồng tổng mức đầu tư Dự án Xây dựng tuyến đường từ đê Ngọc Thụy đến Khu đô thị mới Thượng Thanh. Ảnh: Internet

KTNN xác định giảm hơn 823 tỷ đồng tổng mức đầu tư Dự án Xây dựng tuyến đường từ đê Ngọc Thụy đến Khu đô thị mới Thượng Thanh. Ảnh: Internet

Kết quả kiểm toán 9 dự án BOT trong năm 2019 cho thấy: Bộ Giao thông vận tải (GTVT) cho phép lập dự án BOT trước khi Chính phủ chấp thuận chủ trương dự án, không thực hiện quy trình lập, phê duyệt và công bố danh mục dự án BOT, phê duyệt dự án trước khi có Báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với Dự án Cải tạo nâng cấp luồng sông Sài Gòn đoạn từ cầu đường sắt Bình Lợi tới cảng Bến Súc theo hình thức hợp đồng BOT.

Cơ quan này cũng không công bố danh mục dự án, không tổ chức đấu thầu rộng rãi để lựa chọn nhà đầu tư đối với Dự án Mở rộng Xa lộ Hà Nội và Quốc lộ 1, đoạn từ ngã ba trạm 2 cũ đến nút giao Tân Vạn theo hình thức BOT.

Hầu hết chỉ định nhà thầu thi công; xác định sai tăng tổng mức đầu tư đối với Dự án Đầu tư xây dựng tuyến đường bộ ven biển đoạn qua địa bàn thành phố Hải Phòng và 9 km trên địa bàn tỉnh Thái Bình theo hình thức đối tác công tư 45,4 tỷ đồng, Dự án Đường cao tốc Trung Lương - Mỹ Thuận giai đoạn 1 theo hình thức BOT (kiểm toán đợt 2) 61,9 tỷ đồng, Dự án Cải tạo nâng cấp luồng sông Sài Gòn đoạn từ cầu đường sắt Bình Lợi tới cảng Bến Súc theo hình thức hợp đồng BOT 7,7 tỷ đồng…

Bên cạnh đó, một số gói thầu được thi công trước khi lựa chọn nhà thầu đối với Dự án cao tốc Trung Lương Mỹ Thuận giai đoạn 1.

Ngoài ra, còn tình trạng thu xếp vốn tín dụng của nhà đầu tư chưa bảo đảm quy định hợp đồng BOT hoặc chưa bảo đảm tiến độ thực hiện dự án; góp vốn chủ sở hữu chậm, xác định chi phí sửa chữa, duy tu trong Phương án tài chính chưa đủ cơ sở và căn cứ pháp lý; chưa cập nhật chi phí sử dụng trạm thu phí không dừng theo hướng dẫn của Bộ GTVT và Chính phủ; sử dụng nguồn vốn thu phí BOT để hoàn vốn cho hạng mục không thuộc dự án; lập thiết kế - dự toán còn sai sót; tiến độ thực hiện chậm so với kế hoạch; nghiệm thu, thanh toán còn sai sót; chậm phê duyệt quyết toán theo quy định của hợp đồng BOT...

Về kết quả kiểm toán 29 dự án BT tại các địa phương, KTNN chỉ rõ hầu hết các dự án đều chỉ định nhà đầu tư; có dự án chỉ định nhà đầu tư sau khi triển khai thi công dự án; các dự án chủ yếu do nhà đầu tư đề xuất và đưa vào danh mục đầu tư, chuyển đổi hình thức đầu tư dự án từ sử dụng vốn NSNN sang đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) và dự án do nhà đầu tư đề xuất không lấy ý kiến các bộ, ngành theo quy định; không thực hiện xây dựng và công bố danh mục dự án; lựa chọn nhà đầu tư hạn chế năng lực tài chính nên phải thay đổi từ hình thức thanh toán bằng đất sang bằng tiền.

Bên cạnh đó, có tình trạng xác định tổng mức đầu tư ban đầu không chính xác. Cụ thể, tại Hà Nội, hầu hết các dự án xác định tổng mức đầu tư ban đầu lớn hơn nhiều so với giá trị thực tế triển khai (Dự án Xây dựng tuyến đường từ đê Ngọc Thụy đến Khu đô thị mới Thượng Thanh, quận Long Biên giảm dự toán 69,2 tỷ đồng, chi phí đền bù GPMB giảm 754,3 tỷ đồng; Dự án Xây dựng đường 2,5 đoạn Đầm Hồng - Quốc lộ 1A giảm 251,4 tỷ đồng; Dự án Cải tạo và xây dựng hệ thống cống nối thông hồ Vục, hồ Đầu Băng và hồ Tư Đình, quận Long Biên giảm 26 tỷ đồng, chi phí đền bù GPMB giảm 59,8 tỷ đồng).

Ngoài ra, việc phê duyệt dự án sau khi triển khai thi công và chưa có báo cáo đánh giá tác động môi trường; phê duyệt điều chỉnh một số nội dung không đúng quy định và còn sai sót, phê duyệt diện tích và giá đất tạm tính vượt giá trị dự án BT; phê duyệt điều chỉnh dự án chưa xác định rõ nguồn vốn hợp pháp khác; ký hợp đồng BT sau khi nhà đầu tư đã thực hiện thi công và ký kết phụ lục hợp đồng bổ sung chi phí lãi vay từ thời điểm phê duyệt quyết toán dự án BT đến thời điểm được giao đất dự án đối ứng không phù hợp quy định.