Tiếp tục lấy ý kiến về Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)

Tại Kỳ họp thứ 5 Quốc hội Khóa XIII, dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) chưa được Quốc hội thông qua, do vậy dự án Luật sẽ tiếp tục được lấy ý kiến để hoàn thiện, đưa ra xem xét, thông qua tại kỳ họp tới.

Tại Kỳ họp thứ 5 Quốc hội Khóa XIII, dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) chưa được Quốc hội thông qua, do vậy dự án Luật sẽ tiếp tục được lấy ý kiến để hoàn thiện, đưa ra xem xét, thông qua tại kỳ họp tới.

IMG

Ảnh: Lê Tiên

Theo báo cáo của UBTVQH, đa số ý kiến tán thành với việc tiếp tục quy định chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai. Một số ý kiến đề nghị thực hiện chế độ đa sở hữu đối với đất đai, sở hữu tư nhân đối với đất ở. Có ý kiến đề nghị dùng khái niệm sở hữu nhà nước thay cho sở hữu toàn dân. UBTVQH cho rằng: Chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai đã được quy định tại Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992. Đất đai là thành quả do công sức khai phá, bồi bổ của các thế hệ người Việt Nam, thành quả cách mạng to lớn của nhân dân ta. Việc tiếp tục quy định sở hữu toàn dân đối với đất đai là phù hợp với bản chất chế độ xã hội ta. Do vậy UBTVQH đã đề nghị giữ nguyên quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. 

 

Có ý kiến đề nghị bổ sung quy định cụ thể về điều tiết địa tô chênh lệch phát sinh khi chuyển mục đích sử dụng đất. UBTVQH cho rằng: Dự thảo Luật đã quy định Nhà nước điều tiết phần giá trị tăng thêm từ đất mà không do đầu tư của người sử dụng đất mang lại. Việc thực hiện quyền điều tiết của Nhà nước đối với trường hợp này được thể hiện cụ thể thông qua chính sách thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất khi được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất và chính sách thuế liên quan đến đất đai. Việc giao đất, cho thuê đất chủ yếu được thực hiện thông qua đấu giá quyền sử dụng đất (Điều 116), việc Nhà nước chủ động thu hồi đất, bao gồm đất để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng và đất vùng phụ cận theo quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất khi thực hiện các dự án hạ tầng kỹ thuật, xây dựng, chỉnh trang khu đô thị, khu dân cư nông thôn (Điều 144) là những biểu hiện cụ thể của điều tiết địa tô chênh lệch phát sinh khi chuyển mục đích sử dụng đất. 

 

Có ý kiến đề nghị bổ sung quy định các điều kiện để hạn chế việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất sản xuất nông nghiệp dẫn đến một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số thiếu đất sản xuất. UBTVQH xin đề nghị tiếp thu và bổ sung vào Điều 190 quy định hộ gia đình, cá nhân đồng bào dân tộc thiểu số được giao đất theo chính sách hỗ trợ của Nhà nước thì chỉ được chuyển nhượng quyền sử dụng đất sau mười năm kể từ ngày được giao đất. Bên cạnh đó, có ý kiến đề nghị ngoài việc bố trí đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số cần phải quan tâm bố trí quỹ đất để xây dựng các công trình công cộng phục vụ cho hoạt động chung của cộng đồng. UBTVQH đã xin đề nghị tiếp thu và bổ sung quy định theo hướng khi lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải ưu tiên bố trí quỹ đất để xây dựng các công trình công cộng phục vụ hoạt động chung của cộng đồng dân cư  (Khoản 7 Điều 35).

 

Về hệ thống quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (Điều 36), nhiều ý kiến tán thành với dự thảo Luật quy định 3 cấp quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và đưa nội dung quy hoạch cấp xã vào quy hoạch sử dụng đất cấp huyện. Có một số ý kiến đề nghị giữ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 4 cấp như Luật đất đai hiện hành. Theo UBTVQH, quy định nội dung quy hoạch sử dụng đất cấp xã vào quy hoạch sử dụng đất cấp huyện trong dự thảo Luật được xây dựng trên cơ sở tổng kết thi hành Luật Đất đai 2003, phù hợp với yêu cầu cải cách hành chính. Việc đưa nội dung quy hoạch sử dụng đất cấp xã vào quy hoạch sử dụng đất cấp huyện nhằm khắc phục việc thiếu tính liên kết, đồng bộ giữa quy hoạch của các xã trên địa bàn huyện, đồng thời khắc phục được tình trạng trùng lắp trong công tác lập quy hoạch; tiết kiệm kinh phí, nhân lực, thời gian lập quy hoạch sử dụng đất. Do đó, UBTVQH đã đề nghị giữ quy định về cấp quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất như trong dự thảo Luật.

IMG

Ảnh: LTT

Đối với giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, có ý kiến đề nghị quy định bổ sung căn cứ giao đất, cho thuê đất đối với các dự án, công trình thuộc thẩm quyền Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư. UBTVQH xin đề nghị tiếp thu và quy định tại Điều 51 về trường hợp giao đất cho các dự án, công trình thuộc thẩm quyền Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư.

 

Có ý kiến cho rằng, quy định về việc thu hồi đất trồng lúa, đất rừng đặc dụng, rừng phòng hộ phải có văn bản cho phép chuyển mục đích sử dụng của Thủ tướng Chính phủ là rất khó thực hiện, đề nghị Luật cần quy định quy mô nào thì phải xin phép Thủ tướng Chính phủ; nếu nhu cầu chính đáng như làm đường, làm thủy lợi mà phải xin Thủ tướng Chính phủ đồng ý thì mất nhiều thủ tục và thời gian. UBTVQH cho rằng: Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh đã được Chính phủ phê duyệt nhưng chưa xác định vị trí các dự án, công trình cụ thể nên trong thời gian vừa qua, việc chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, rừng đặc dụng theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ở một số địa phương thực hiện chưa nghiêm, nhiều dự án đầu tư đã thu hồi đất của người dân và giao cho nhà đầu tư nhưng không đưa đất vào sử dụng, còn để đất hoang hóa, gây bất bình trong nhân dân. 

 

Để khắc phục tình trạng nêu trên và đảm bảo mục tiêu an ninh lương thực quốc gia, bảo vệ môi trường, UBTVQH đã đề nghị quy định cụ thể trong Luật theo hướng ngoài những dự án, công trình thuộc thẩm quyền Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư, dự án, công trình thuộc thẩm quyền Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư thì dự án, công trình có chuyển diện tích đất lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng sang mục đích khác theo quy mô nhất định phải xin ý kiến Thủ tướng Chính phủ. Các trường hợp còn lại phải được quy hoạch chi tiết trong phạm vi kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch sử dụng đất đã được Chính phủ phê duyệt và được Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thông qua.

Ngô Trần

ngocthanh