Tạo bước phát triển kinh tế biển trong giai đoạn mới

Không ít các tập đoàn lớn trên thế giới đang đặt tầm ngắm vào vùng biển Việt Nam với nhiều dự án đầu tư quy mô đang được manh nha. Đây vừa là cơ hội, vừa là thách thức đối với Việt Nam, mà sự chần chừ hoặc từ chối có thể làm mất cơ hội.

 

Không ít các tập đoàn lớn trên thế giới đang đặt tầm ngắm vào vùng biển Việt Nam với nhiều dự án đầu tư quy mô đang được manh nha. Đây vừa là cơ hội, vừa là thách thức đối với Việt Nam, mà sự chần chừ hoặc từ chối có thể làm mất cơ hội.

 

IMG

 

Ồ ạt đầu tư


Theo Bộ Giao thông vận tải (GTVT), Việt Nam hiện có 49 cảng biển các loại, bao gồm 17 cảng loại I; 23 cảng loại II và 9 cảng loại III với tổng chiều dài tuyến mép khoảng 40km, trong đó có 26km bến hàng tổng hợp, container và 14km bến hàng chuyên dùng, hơn 160 bến phao và hàng vạn mét khối kho, mét vuông bãi hàng và hàng nghìn đội tàu biển hoạt động rộng khắp cả nước và quốc tế. 

 

Theo TS. Lý Huy Tuấn, Viện trưởng Viện Chiến lược và Phát triển GTVT thuộc Bộ GTVT, ngay từ năm 2007 Chính phủ đã bắt đầu khởi động kế hoạch phát triển kinh tế hướng ra biển, từ đó sẽ tạo động lực dẫn dắt và kết nối các lĩnh vực, vùng kinh tế trọng điển trên cả nước tăng tốc phát triển. Từ khi Chiến lược phát triển kinh tế biển được ra đời, trong một vài năm trở lại đây, nhiều địa phương trong cả nước đã tranh thủ thời cơ và các xu thế phát triển mới sẽ xuất hiện để đầu tư hàng loạt cảng biển quy mô lớn, trang bị đội tàu biển có sức chuyên chở lớn, xây dựng hàng loạt trung tâm logistics, từ đó dần dần hình thành nên những cụm cảng lớn trong vùng, đủ sức cạnh tranh với các nước trong khu vực. Tính đến thời điểm hiện nay, cả nước đã hình thành được 18 khu kinh tế (KKT) ven biển với nhiều hoạt động khai thác xa bờ, cảng biển phong phú. 

 

PGS. TS. Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam cho rằng, nhìn trên bình diện tổng thể thì Chiến lược phát triển kinh tế biển của quốc gia được xây đựng đúng hướng, kịp thời nắm bắt những thời cơ mới, nhưng nếu nhìn từ một góc độ nào đấy thì rất dễ nhận thấy quá trình đưa nền kinh tế hướng biển của chúng ta đang bị chậm lại, nếu không muốn nói là chệch định hướng. PGS.TS. Trần Đình Thiên chỉ ra, thời gian qua, quy hoạch phát triển hệ thống cảng tràn lan, không có một sự sàng lọc rõ ràng, các địa phương ven biển ồ ạt thu hút đầu tư và xây dựng cảng, dẫn đến sự mất cân đối, giẫm đạp cạnh tranh nhau. Đó là chưa kể đến cơ cấu bến tại các cảng cũng chưa hợp lý: Số lượng bến cho hàng tổng hợp, container thấp, chưa đáp ứng nhu cầu; Luồng vào cảng chưa phù hợp với quy mô cầu bến; Hạ tầng kỹ thuật kết nối với cảng chưa đồng bộ; hệ thống logistics yếu kém (chưa thực sự có trung tâm logistics, phân phối hàng hóa); ít cảng cạn, cảng thông quan nội địa (ICD)... 

 

Trong khi đó, cách phát triển ồ ạt các KKT biển làm cho nền kinh tế không thể chuẩn bị đầy đủ các điều kiện tiên quyết cho sự phát triển kinh tế tập trung quy mô lớn và đẳng cấp cao. Hai lực lượng “chủ công” để phát triển hiệu quả các KKT biển là lực lượng doanh nghiệp Việt Nam và nguồn nhân lực chất lượng cao lại là những yếu tố bị thiếu hụt nghiêm trọng nhất. Mà một khi những yếu tố nội lực bị “mỏng” và “yếu” thì hệ quả tất yếu sẽ là: phần quan trọng nhất của lợi ích tăng trưởng có được từ sự phát triển KKT biển sẽ thuộc về các nhà đầu tư nước ngoài do họ bị chi phối về vốn đầu tư.

 

Tìm hướng đi riêng 


Theo các nhà nghiên cứu, để kinh tế biển Việt Nam phát triển được, trước hết, chúng ta cần phát triển hệ thống cảng biển theo một chiến lược tổng thể và thống nhất trên quy mô cả nước, nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; tạo cơ sở vật chất kỹ thuật để nhanh chóng đưa nước ta hội nhập và đủ sức cạnh tranh trong hoạt động cảng biển với các nước trong khu vực và trên thế giới; khẳng định vị trí và ưu thế về kinh tế biển, đồng thời góp phần bảo đảm an ninh quốc phòng của đất nước. Từ đó sẽ hình thành những đầu mối giao lưu kinh tế quan trọng với quốc tế làm động lực phát triển các KKT, khu đô thị - công nghiệp ven biển, đưa Chiến lược phát triển kinh tế biển Việt Nam trong giai đoạn tới đi đúng hướng.

 

IMG

Theo đó, đến năm 2050, để đáp ứng toàn bộ lượng hàng xuất nhập khẩu và giao lưu giữa các vùng miền trong nước bằng đường biển với chất lượng quốc tế, chúng ta cần có 1 - 2 cảng trung chuyển quốc tế (trong đó có một cảng trung tâm) tại các vùng kinh tế mạnh về biển, 3 - 5 cảng cửa ngõ phục vụ xuất nhập khẩu, trung chuyển hàng hóa quốc tế. Trong bối cảnh hiện nay, cần cho phép khu vực tư nhân tham gia xây dựng chiến lược, quy hoạch, tăng cường tính hiệu quả của ngành và mô phỏng kết quả cải thiện.  

 

PGS.TS. Ngô Doãn Vịnh, Nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược phát triển thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho rằng, để tạo bước đột phá cho phát triển kinh tế biển, ngay từ bây giờ đã cần triển khai nghiên cứu mô hình quản lý tương thích với một đô thị cảng hiện đại,  tiến tới đô thị cảng thông minh dựa trên nền tảng công nghệ hiện đại và một nguồn nhân lực chất lượng cao. Đồng thời, cần xây dựng Chương trình hành động cụ thể cho từng năm, cho 5 năm, cho 10 năm và xa hơn nữa để đổi mới mô hình quản lý. Kiên quyết không thu hút những dự án có công nghệ thấp và thậm chí ngay cả việc thu hút những dự án có công nghệ trung bình cũng phải hạn chế tới mức tối đa, cũng như không nên thu hút những dự án sử dụng quá nhiều đất đai vào những vùng ven biển, thay vào đó cần phải phân bổ nguồn lực và tài nguyên phát triển các lĩnh vực kinh tế biển một cách hài hòa.  

 

Còn theo PGS. TS. Trần Đình Thiên, thực tế của quá trình phát triển kinh tế biển phản ánh một yêu cầu cấp bách đang đặt ra cho nhiệm vụ tái cấu trúc nền kinh tế của nước ta: phải và chỉ có thể tập trung nguồn lực cho một số tọa độ đột phá mạnh, có khả năng lan tỏa rộng và mang lại hiệu ứng phát triển cao nhất. Nghĩa là phải tập trung phát triển một số ít cửa khẩu - cửa mở của các vùng kinh tế trọng điểm, với định hướng rõ về chức năng. Theo logic đó, trong thời gian tới Nhà nước chỉ nên tập trung cho một số KKT biển quy mô lớn gắn với các vùng kinh tế trọng điểm. 

Nguyên Minh

  Ảnh: Nhã Chi

 

trungnam