Phương thức đối tác công - tư (PPP): Kinh nghiệm quốc tế và khung khổ thể chế tại Việt Nam

Đó là chủ đề của Tọa đàm kỹ thuật về PPP do Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế - Xã hội Quốc gia (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) tổ chức ngày 26/7 tại Hà Nội.

Đó là chủ đề của Tọa đàm kỹ thuật về PPP do Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế - Xã hội Quốc gia (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) tổ chức ngày 26/7 tại Hà Nội. 

IMG

Ảnh: Tiên Giang

Đây là hoạt động nằm trong Đề tài nghiên cứu “Phương thức đối tác công – tư (PPP): Kinh nghiệm quốc tế và khung khổ thể chế tại Việt Nam” thuộc dự án “Hỗ trợ nâng cao năng lực tham mưu, thẩm tra và giám sát chính sách kinh tế vĩ mô” của Ủy ban Kinh tế của Quốc hội và Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP).

 

Thực tiễn ứng dụng mô hình PPP trên thế giới

 

Để thấy được bức tranh tổng thể về việc triển khai mô hình PPP trên thế giới, nhóm nghiên cứu đã tìm hiểu thực tiễn triển khai 5 dự án PPP tại các nước phát triển, trong đó có 3 dự án thành công và 2 dự án không thành công. 

 

Kết quả nghiên cứu Đề tài đã chỉ ra: dự án PPP về cảng Busan New Port (Hàn Quốc) thành công là nhờ tiến hành các nghiên cứu làm cơ sở cho việc tính toán và xác định tỷ suất hoàn vốn nội bộ tối ưu, bảo đảm doanh thu tối thiểu của Dự án; dự án PPP về cầu QE2 Dartford Bridge (Anh) thành công là nhờ lựa chọn dự án đúng, ít rủi ro, lưu lượng giao thông cao hơn dự báo; và dự án PPP thành công nữa là Bệnh viện Joondalup Hospital (Úc) là do Chính phủ nơi đây bảo đảm mua khối lượng dịch vụ nhất định; đồng thời chia sẻ rủi ro với nhà đầu tư và giám sát tốt chất lượng dịch vụ.

 

Đối với dự án PPP hầm Sydney Cross City Tunnel (Úc), nguyên nhân khiến dự án này không thành công là do cách lựa chọn nhà thầu dựa trên tiêu chí mức phí và lệ phí qua hầm thấp nhất chưa thực sự hiệu quả; Chính phủ không bỏ chi phí và lưu lượng giao thông thấp hơn dự báo. Hầm Warnowquerung (Đức) triển khai theo mô hình PPP khi khung pháp lý cho những dự án này chưa hoàn thiện...

 

Ở các nước đang phát triển, Đề tài cũng đã nghiên cứu 5 dự án PPP. Kết quả nghiên cứu đề tài cho thấy, dự án nhà máy điện Laibin B (Trung Quốc) thành công là nhờ đấu thầu cạnh tranh; có cơ chế chia sẻ rủi ro khá hợp lý và có sự hỗ trợ mạnh mẽ từ Chính phủ. Dự án Nhượng quyền phân phối điện Bhiwandi (Ấn Độ) thành công là do có sự tham vấn của các bên liên quan; thực hiện đấu thầu cạnh tranh và phía tư nhân có động lực giảm chi phí, tăng hiệu quả của Dự án. Còn dự án Nhà máy điện sử dụng hệ thống than đốt cháy Central Java (In-đô-nê-xi-a) đang triển khai và bị chậm tiến độ là do Chính phủ nước này bảo lãnh thông qua 1 công ty nhà nước; năng lực các cơ quan quản lý ở địa phương yếu và có sự tranh chấp đất đai…

IMG

Đối với dự án PPP đường thu phí Don Muang (Thái Lan) thì khung khổ pháp lý PPP chưa rõ ràng, thiếu cơ chế chia sẻ và Chính phủ Thái Lan không thực hiện cam kết với nhà đầu tư. Dự án PPP xây dựng kênh đào Martin Garcia Channel (Ác-hen-ti-na và U-ru-guay) thì do khủng hoảng kinh tế; thiếu thỏa thuận trách nhiệm của mỗi nước tại thời điểm chuyển giao nên việc làm trước mắt đối với dự án này là cần có kế hoạch chuyển giao giữa các nước.

 

Thể chế và việc áp dụng PPP ở Việt Nam


Theo bà Mai Thị Thu, Giám đốc Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế - Xã hội Quốc gia, hiện nay, hệ thống pháp luật, chính sách chi phối đến việc thực hiện dự án PPP ở Việt Nam gồm: Luật Đấu thầu; Luật Đầu tư; Luật Ngân sách nhà nước; Luật Doanh nghiệp; Luật Xây dựng; Luật Đất đai...; các nghị quyết của Quốc hội; các văn bản hướng dẫn thi hành. Bên cạnh đó, còn có Nghị định 108/2009/NĐ-CP (NĐ108) và Nghị định 24/2011/NĐ-CP quy định lĩnh vực, điều kiện, trình tự, thủ tục đầu tư, ưu đãi đầu tư; quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia Hợp đồng BOT, BTO, BT; Quyết định số 71/2010/QĐ-TTg ngày 19/11/2010 (QĐ71) về ban hành Quy chế thí điểm PPP và các quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

 

Bà Mai Thị Thu cho biết, dưới góc độ của các nhà tư vấn đánh giá thì môi trường thể chế về PPP ở Việt Nam vẫn chưa cao, cụm từ “thí điểm” ở Quy chế thí điểm PPP tạo cảm giác không chắc chắn đối với các nhà đầu tư. QĐ71 chưa khuyến khích hình thức nhà đầu tư tự đề xuất dự án PPP là không phù hợp với thông lệ quốc tế cũng như không hoàn toàn phù hợp với điều kiện hiện nay tại Việt Nam. Việt Nam chưa có một khung pháp lý đồng nhất cho những dự án theo hình thức PPP. NĐ108 quy định cho các dự án BOT và QĐ71 quy định cho các dự án PPP, có những nội dung không đồng nhất và cũng không có sự kết nối với nhau. Vì vậy, bà Mai Thị Thu khuyến nghị, cần phải có một khung khổ pháp lý có hiệu lực cao hơn (Nghị định/Luật về PPP) để đảm bảo hiệu lực thực thi PPP ở Việt Nam sẽ có tác động tích cực hơn đối với sự quan tâm của các nhà đầu tư.

 

Đánh giá về Đề tài nghiên cứu trên, TS. Tô Trung Thành, cố vấn kinh tế quốc dân dự án “Hỗ trợ nâng cao năng lực tham mưu, thẩm tra và giám sát chính sách kinh tế vĩ mô” nhận xét, nghiên cứu đã đánh giá chi tiết về môi trường thể chế liên quan tới PPP tại Việt Nam (đặc biệt là hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh PPP); đánh giá môi trường thể chế dưới góc nhìn của các nhà tư vấn; đã lựa chọn 2 dự án PPP ở Việt Nam để phân tích và từ đó đã đưa ra được những khó khăn trong việc áp dụng phương thức PPP tại Việt Nam. Đây là một đề tài nghiên cứu có chất lượng, một tài liệu tham khảo rất tốt cho những nghiên cứu khác về PPP.

 

Mục tiêu của Đề tài nghiên cứu “Phương thức đối tác công – tư (PPP): Kinh nghiệm quốc tế và khung khổ thể chế tại Việt Nam” là nghiên cứu những thông lệ tốt của thế giới về huy động vốn tư nhân cho phát triển hạ tầng; rà soát và phân tích nhu cầu, đặc điểm, phương thức và triển vọng thu hút nguồn vốn ngoài ngân sách cho phát triển hạ tầng ở Việt Nam; từ đó đưa ra một số lựa chọn về khung khổ thể chế và phương thức vận hành mô hình PPP ở Việt Nam. Theo đó, Đề tài phân tích các kinh nghiệm quốc tế thực tế trong triển khai PPP; những khó khăn về thể chế/quy định/pháp luật/thông tin...… của Việt Nam trong việc thúc đẩy vốn tư nhân nước ngoài cho các dự án PPP ưu tiên đã được nêu trong Hội nghị Trung ương 4; đưa ra những khuyến nghị về cơ chế mang tính đặc cách phù hợp với điều kiện để Việt Nam có thể áp dụng mô hình PPP cho một vài dự án về kết cấu hạ tầng trong thời gian tới.

 

Bích Thảo

ngocthanh