Nâng cao hiệu quả các dự án cấp nước sạch nông thôn

Hiệu quả đầu tư, quản lý, sử dụng và khai thác các công trình cấp nước sạch nông thôn còn nhiều tồn tại. Cần thiết phải sớm ban hành những văn bản pháp luật để điều chỉnh hoạt động này.

Hiệu quả đầu tư, quản lý, sử dụng và khai thác các công trình cấp nước sạch nông thôn còn nhiều tồn tại. Cần thiết phải sớm ban hành những văn bản pháp luật để điều chỉnh hoạt động này.

IMG

                                                                                                Ảnh: Tất Tiên

Dành nhiều đầu tư cho nước sạch nông thôn

 

Thời gian qua Chính phủ đã tập trung nhiều nguồn lực để phát triển mạng lưới cấp nước sạch nông thôn. Các chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch, ứng phó với biến đổi khí hậu, xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, chiến lược quốc gia về tài nguyên nước, Chương trình 134, 135… đều có gắn với các dự án cấp nước sạch cho nông thôn. Kết quả đến cuối năm 2012, tổng số người dân nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh là gần 55 triệu người, tăng hơn 15 triệu người so với cuối năm 2005; tỷ lệ số người dân nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh tăng từ 62% lên 80%. 

 

Dù đã đạt được những kết quả tích cực, song hệ thống công trình cấp nước sạch nông thôn vẫn còn thiếu và hoạt động kém hiệu quả khi số lượng người sử dụng nước sạch còn thấp (mới chỉ dừng ở mức sử dụng nước hợp vệ sinh). Chính phủ xác định vẫn dành nhiều sự quan tâm đầu tư cho lĩnh vực này, với mục tiêu đến cuối năm 2015, 85% dân số nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh, trong đó 45% sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn với số lượng ít nhất là 60 lít/người/ngày. Đây cũng là những mục tiêu đảm bảo cam kết của Chính phủ Việt Nam với các nhà tài trợ và các tổ chức quốc tế, đồng thời là một trong những tiêu chí quan trọng của việc xây dựng nông thôn mới đến năm 2020. 

 

Nhiều dự án chưa hiệu quả

 

Báo cáo của Bộ Tài chính nhận xét, việc quản lý, sử dụng và khai thác công trình cấp nước sạch nông thôn ở nhiều địa phương còn kém hiệu quả. Số lượng công trình hoạt động tốt còn ít, số lượng công trình hoạt động trung bình và kém hiệu quả tương đối nhiều, cá biệt có một số công trình dừng hoạt động, ở trong tình trạng “đắp chiếu” khá lâu. 

 

Một trong những nguyên nhân của thực trạng này xuất phát từ việc cơ chế hỗ trợ vốn cho các dự án cấp nước sạch nông thôn hiện chưa rõ, chưa đồng bộ với nhiều dự án khác ngay trên địa bàn. Việc xã hội hoá nguồn vốn còn hạn chế do chậm có chính sách quy định và khả năng sinh lợi từ các công trình cấp nước nông thôn còn thấp. Bên cạnh đó, cơ chế phối hợp, lồng ghép có hiệu quả giữa các chương trình cấp nước nông thôn theo một kế hoạch tổng thể cũng chưa thực sự gắn kết, dẫn đến việc đầu tư dàn trải các công trình làm hiệu quả đầu tư nguồn vốn không cao. 

 

Đối với những công trình cấp nước sạch cho nông thôn đã đi vào vận hành thì cơ chế giá nước áp dụng hiện nay tại khu vực nông thôn cũng đang là hạn chế. Theo đó, những quy định về giá nước theo nguyên tắc tính đúng, tính đủ chưa được thực hiện, giá tiêu thụ nước thấp hơn giá thành nhưng lại không được cấp bù theo quy định là thực trạng chung tại nhiều địa phương. Với cách tính giá nước như hiện nay, tình trạng thu không đủ chi là phổ biến, lại không có nguồn hỗ trợ cụ thể nên đã làm hạn chế sự tham gia của khu vực tư nhân vào quản lý vận hành, khai thác các công trình cấp nước nông thôn, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng có thu nhập thấp. Đây cũng chính là nguyên nhân gây ảnh hưởng đến tính bền vững và tính hiệu quả của hệ thống cấp nước nông thôn tập trung.

 

Được biết, ngày 14/1, tại Quảng Bình, Bộ Tài chính tổ chức Hội thảo lấy ý kiến hoàn thiện Dự thảo Thông tư quy định việc quản lý, sử dụng và khai thác công trình cấp nước sạch nông thôn. Việc ban hành Thông tư được đánh giá là cần thiết và cấp bách trong bối cảnh nước sạch dành cho khu vực nông thôn còn nhiều khó khăn.

H.V

trungnam