Hoàn thiện cơ chế đầu tư PPP

Để thực hiện một số dự án, tạo cơ sở để tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách và pháp luật về đầu tư theo hình thức đối tác công - tư (PPP), Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 71/2010/QĐ-TTg ngày 9/11/2010.

Để thực hiện một số dự án, tạo cơ sở để tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách và pháp luật về đầu tư theo hình thức đối tác công - tư (PPP), Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 71/2010/QĐ-TTg ngày 9/11/2010. Tuy nhiên, đến nay, văn bản này đã bộc lộ một số bất cập, cần phải sửa đổi, bổ sung trong thời gian tới.

IMG

Một số bất cập trong quá trình thực hiện

 

Quyết định 71/2010/QĐ-TTg ra đời đã bước đầu tác động tích cực trong việc triển khai một số dự án PPP thời gian qua. Theo Văn phòng PPP thuộc Cục Quản lý đấu thầu, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến thời điểm hiện tại có 2 dự án PPP đã được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận về chủ trương đầu tư và 15 dự án đã và đang được nghiên cứu. Tuy nhiên, hiện vẫn còn một số tồn tại, vướng mắc trong việc lựa chọn lĩnh vực thí điểm và tiêu chí lựa chọn dự án; bố trí vốn cho công tác chuẩn bị dự án; hoạt động của Tổ công tác chuyên ngành chưa thực sự hiệu quả; phần tham gia của Nhà nước; nội dung đề xuất dự án...

 

Về lĩnh vực thí điểm, tiêu chí lựa chọn dự án, lĩnh vực đầu tư chủ yếu là xây dựng kết cấu hạ tầng, mà chưa bao gồm hết các lĩnh vực phù hợp để đầu tư PPP. Mặt khác, các lĩnh vực đầu tư và tiêu chí lựa chọn dự án chưa được quy định cụ thể sẽ phải trình Thủ tướng Chính phủ, điều này làm tăng thêm các thủ tục hành chính và nhiệm vụ của Thủ tướng Chính phủ.

 

Về phần tham gia của Nhà nước, theo quy định hiện hành, phần tham gia của Nhà nước bao gồm vốn nhà nước, các ưu đãi đầu tư, chính sách tài chính làm tăng tính khả thi của dự án PPP; đồng thời phần tham gia của Nhà nước không vượt quá 30% tổng vốn đầu tư; và Thủ tướng Chính phủ quyết định phần tham gia của Nhà nước. Tuy nhiên, ưu đãi và chính sách tài chính rất khó lượng hóa trong giai đoạn chuẩn bị dự án. Đối với một số dự án tiềm năng, phần tham gia của Nhà nước phải lớn hơn 30%. Hơn nữa, Thủ tướng Chính phủ cũng không nhất thiết phải quyết định phần tham gia của Nhà nước là nguồn vốn nhà nước do địa phương tự cân đối.

 

Một vấn đề nữa là nội dung đề xuất dự án PPP theo quy định hiện hành cũng chưa đủ để đánh giá tính khả thi của dự án dù chỉ ở mức đánh giá sơ bộ. Bởi các nội dung của đề xuất dự án hiện hành mới chỉ là các tiêu chí về mặt kỹ thuật, trong khi còn thiếu một số nội dung đặc thù của dự án PPP như chia sẻ rủi ro, mô hình tài chính…

 

Định hướng sửa đổi, bổ sung

 

Lý giải sự bất cập nêu trên, đại diện Cục Quản lý đấu thầu cho rằng, đó là do Quyết định 71/2010/QĐ-TTg được xây dựng trong bối cảnh tại Việt Nam chưa có dự án PPP nào được triển khai, dẫn đến một số quy định thiếu thực tiễn, chưa nhìn nhận hết các vấn đề. Mặt khác, việc triển khai đầu tư theo hình thức xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT), xây dựng - chuyển giao - kinh doanh (BTO), xây dựng - chuyển giao (BT) theo Nghị định 108/2009/NĐ-CP khác biệt với Quyết định 71/2010/QĐ-TTg, nên dẫn tới sự quan ngại của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi áp dụng. Một trong những nguyên nhân khác nữa là do các Bộ, ngành, địa phương chưa đề xuất các dự án PPP tốt, phù hợp trong giai đoạn thí điểm; chưa thực sự vào cuộc, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong Chương trình PPP.

 

Các dự án PPP đã được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận về chủ trương:

- Dự án Đường cao tốc Dầu Giây - Phan Thiết; - Dự án Ứng dụng thương mại điện tử trong mua sắm chính phủ.

15 dự án PPP đã và đang được nghiên cứu:

- Dự án Đường cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu (Bộ Giao thông vận tải);

- Dự án Quản lý hậu cần bệnh viện (Bộ Y tế);

- 2 dự án của TP. Hà Nội là: Đầu tư đoạn Vành đai 4 (Quốc lộ 3 đến Quốc lộ 32) và Hệ thống cấp nước sông Đuống;

- 2 dự án của tỉnh Thanh Hóa là: Cầu đường Nguyệt Viên và Hệ thống xử lý nước thải Khu kinh tế Nghi Sơn;

- 2 dự án của tỉnh Quảng Trị là: Xây dựng trung tâm hậu cần Đông Hà, cảng cạn Lao Bảo và Cấp nước sông Nhùng.

- 5 dự án của TP. Đà Nẵng, gồm: Phát triển mạng lưới xe buýt Thành phố; Xử lý bùn trên địa bàn Thành phố; Mở rộng hệ thống mạng internet không dây công cộng; Xây dựng nút giao thông khác mức tại nút ngã ba Huế; Xây dựng cảng Liên Chiểu; Xây dựng bãi đỗ xe ngầm;

- Dự án Nâng cấp nhà máy xử lý nước thải tập trung khu công nghiệp An Nghiệp của tỉnh Sóc Trăng;

- Dự án Đường liên cảng huyện Nhơn Trạch của tỉnh Đồng Nai;

 Nhận thức được những tồn tại này, Ban chỉ đạo về PPP đã định hướng sửa đổi Quyết định 71/2010/QĐ-TTg sẽ theo hướng mở rộng lĩnh vực đầu tư nhằm có thể bao hàm hết các lĩnh vực phù hợp để đầu tư PPP; chi phí chuẩn bị đầu tư các dự án; phân biệt nguồn vốn tham gia của Nhà nước gồm vốn của Trung ương và của địa phương... Trong đó, các nguồn vốn nhà nước có thể được lượng hóa thành tiền như tài sản của Nhà nước, quyền sử dụng đất… Đối với mức trần phần vốn của Nhà nước tham gia dự án sẽ không quy định cứng mức cụ thể hoặc nâng mức trần lên một tỷ lệ phù hợp. Về thẩm quyền, phần vốn trung ương tham gia dự án sẽ do Thủ tướng Chính phủ quyết định, còn phần vốn địa phương tự cân đối tham gia dự án sẽ do Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định.

 

Và để khắc phục vấn đề bố trí vốn cho công tác chuẩn bị dự án, Quỹ Nguồn vốn chuẩn bị dự án (PDF) đã được xây dựng, bao gồm vốn ban đầu và vốn quay vòng từ nhà đầu tư được chọn. Theo đại điện Cục Quản lý đấu thầu, nguồn vốn PDF này không phải là quỹ tài chính với mục đích kinh doanh, mà đây là khoản tiền các đối tác phát triển hỗ trợ Chính phủ Việt Nam để phát triển dự án PPP. Mục tiêu của nguồn vốn này là hỗ trợ nguồn lực tài chính, áp dụng quy trình chuẩn hóa để xây dựng dự án PPP có thể đấu thầu cạnh tranh chọn nhà đầu tư.

Bích Thủy

 

ngocthanh