Để ngành công nghiệp ô tô sớm có sản phẩm mang thương hiệu Việt

Trong khuôn khổ chia sẻ tri thức với Hàn Quốc với chủ đề “Nâng cao hiệu quả và tăng trưởng bền vững”, khi bàn về năng lực cạnh tranh của ngành sản xuất ô tô ở Việt Nam, nhiều chuyên gia nhận định, sau 20 năm xây dựng và phát triển...

Trong khuôn khổ chia sẻ tri thức với Hàn Quốc với chủ đề “Nâng cao hiệu quả và tăng trưởng bền vững”, khi bàn về năng lực cạnh tranh của ngành sản xuất ô tô ở Việt Nam, nhiều chuyên gia nhận định, sau 20 năm xây dựng và phát triển, đến nay công nghiệp ô tô của Việt Nam dù “thai nghén” đã lâu nhưng vẫn chưa có sản phẩm riêng mang thương hiệu Việt, mà chỉ dừng lại ở việc lắp ráp sản phẩm.

IMG

Ảnh: Đức Trung

Nếu lấy cột mốc từ thời điểm Thủ tướng Chính phủ ký quyết định số 177/2004/QĐ-TTg ngày 5/10/2004 phê duyệt “Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn 2020” (Quy hoạch), thì đến nay Ngành này vừa tròn một thập niên. Đó là chưa kể 10 năm trước đó, công tác xây dựng, phát triển ngành công nghiệp ô tô cũng đã được các Bộ, ngành triển khai với nhiều công sức. 

 

Theo số liệu của Vụ Công nghiệp nặng (Bộ Công Thương) thì đến thời điểm hiện nay có 18 doanh nghiệp (DN) có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và 38 DN trong nước tham gia sản xuất, lắp ráp ô tô với năng lực khoảng 460.000 xe/năm. Nhìn vào con số trên thì thấy có vẻ như ngành công nghiệp ô tô đã đáp ứng được nhu cầu trong nước về số lượng. Tuy nhiên, theo nhận định của nhiều chuyên gia, ngành công nghiệp ô tô Việt Nam chưa đạt được tiêu chí cơ bản nào, mà chỉ dừng lại ở mức độ lắp ráp với dây chuyền sản xuất chủ yếu gồm 3 công đoạn chính: hàn, tẩy rửa sơn và lắp ráp. 

 

Tỷ lệ nội địa hóa đang ở mức rất thấp. Mục tiêu đề ra của Quy hoạch là đến năm 2005 phải đạt tỷ lệ nội địa là 40%, đến năm 2010 là 60% đối với các loại xe thông dụng. Nhưng đến nay mới đạt bình quân khoảng 7 - 10%. Bên cạnh đó, công nghiệp hỗ trợ phục vụ công nghiệp ô tô cũng rất yếu kém. Theo mục tiêu mà Quy hoạch đặt ra là đến năm 2010 tỷ lệ sản xuất trong nước đối với động cơ và hộp số là 50 - 90%, nhưng đến nay chưa làm được. 

 

Mặc dù số lượng DN tham gia ngành công nghiệp hỗ trợ cho công nghiệp ô tô lên đến con số hơn 200, nhưng chủ yếu là những DN vừa và nhỏ và chỉ sản xuất được một số ít phụ tùng đơn giản, hàm lượng công nghệ thấp như gương, kính, ghế ngồi, bộ dây điện, ắc quy, sản phẩm nhựa…

 

Các chuyên gia cũng cho biết, do công nghiệp hỗ trợ kém phát triển nên giá thành sản xuất ô tô ở Việt Nam cao hơn khoảng 20% so với các nước ASEAN. Hầu hết các dây chuyền lắp ráp chỉ hoạt động được 50% công suất nên đẩy chi phí sản xuất lên rất cao.

 

Theo ông Nguyễn Mạnh Quân – Vụ trưởng Vụ Công nghiệp nặng thuộc Bộ Công thương, một trong những nguyên nhân khiến công nghiệp ô tô chưa phát triển là do hạ tầng giao thông của Việt Nam còn yếu kém, chưa tạo điều kiện kích cầu cho ngành công nghiệp ô tô.

 

Còn theo ông Jesus Metelo Arias, Chủ tịch Hiệp hội Các nhà sản xuất ô tô Việt Nam, nguyên nhân kìm hãm sự phát triển ngành công nghiệp ô tô là do chính sách thay đổi quá nhanh trong khi thị trường chưa đủ lớn, ngành công nghiệp hỗ trợ chưa phát triển.“Việt Nam một mặt muốn phát triển ngành công nghiệp ô tô nhưng mặt khác lại đưa ra hàng loạt chính sách để hạn chế sự gia tăng của phương tiện giao thông cá nhân làm hạn chế thị trường. Để lên kế hoạch sản xuất, kinh doanh cũng như đầu tư, các nhà sản xuất phải tính đến mức thời gian tối thiểu là 5 năm, trong khi đó, chính sách ở Việt Nam thay đổi quá nhanh khiến doanh nghiệp hết sức khó khăn, làm nản lòng các nhà đầu tư” - ông Jesus Metelo Arias nói.

 

Nhiều chuyên gia cho rằng, Việt Nam nên học tập kinh nghiệm của Thái Lan. Trước khi mở cửa thị trường, Thái Lan đã xây dựng một ngành ô tô đủ mạnh, trong đó, rất chú trọng đến ngành công nghiệp hỗ trợ. Không chỉ vậy, Thái Lan còn đưa ra chính sách, lộ trình phát triển chắc chắn để các DN dựa vào đó mà lên kế hoạch sản xuất. Đến nay, sau 53 năm xây dựng và phát triển, Thái Lan đã đạt sản lượng 2,8 triệu xe, xuất khẩu khoảng 1 triệu chiếc và lọt vào Top 10 quốc gia xuất khẩu ô tô hàng đầu thế giới. Riêng về phụ tùng, mỗi năm, kim ngạch xuất khẩu của nhóm này đạt đến 5 tỷ USD, hơn tất cả các nước ASEAN cộng lại. Hiện ngành công nghiệp ô tô đã đóng góp đến 12% GDP cho nước này.

 

Để ngành công nghiệp ô tô Việt Nam sớm phát triển, Chính phủ nên có chính sách hỗ trợ và chính sách thuế thấp hoặc bằng các nước trong khu vực. Hiện nay, chi phí sản xuất của Việt Nam cao hơn các nước khoảng 20% mà nguyên nhân chủ yếu là thuế cao (thuế nhập khẩu linh kiện, thuế thu nhập doanh nghiệp...). Quan trọng hơn, các cơ quan của Việt Nam cần xây dựng chính sách ổn định và đảm bảo cho thị trường đồng thời với việc xây dựng các nhà cung ứng có thể tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Có như vậy, ngành công nghiệp ô tô của Việt Nam mới phát triển và có sản phẩm của riêng mình.

DH

ngocthanh