Đánh giá đầy đủ để đảm bảo hiệu quả

Từ kinh nghiệm thực tế triển khai các dự án đối tác công - tư (PPP) trên thế giới, một số chuyên gia quốc tế đã đưa ra những khuyến nghị quan trọng để thực hiện thành công dự án PPP.

Từ kinh nghiệm thực tế triển khai các dự án đối tác công - tư (PPP) trên thế giới, một số chuyên gia quốc tế đã đưa ra những khuyến nghị quan trọng để thực hiện thành công dự án PPP.  

IMG

                                                                                                  Ảnh: Lê Tiên

Ông Adam Moncrieff, Công ty Luật Allen & Overy đã chia sẻ kinh nghiệm của mô hình PFI tại Anh - một dạng của PPP. Theo ông Adam Moncrieff, PPP đã trở thành mô hình quan trọng nhất mà Chính phủ nhiều nước sử dụng để giảm bớt khoảng trống tài chính trong đầu tư dịch vụ công, đặc biệt là ở Anh. 

 

Chính phủ Anh đã sử dụng hình thức PFI để thực hiện 10 - 20% dự án công của Anh. PFI được thực hiện trong nhiều lĩnh vực như vận tải; nước, nước thải, chất thải; giáo dục; cải tạo nhà, đô thị; bệnh viện; quốc phòng; trại giam… Hầu hết trường học và hơn 100 dự án bệnh viện ở Anh đã được thực hiện theo mô hình PFI. 

 

PFI đã tạo cơ hội phát triển cơ sở hạ tầng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế tại Anh. Chính phủ Anh đặc biệt chú trọng đến việc các dự án được trao trong môi trường cạnh tranh và hiệu quả kinh tế của các dự án. 

IMGÔng Adam Moncrieff

Công ty Luật Allen & Overy Việt Nam nên thực hiện thí điểm PPP từ những dự án quy mô nhỏ, đơn giản, để chắc chắn thành công và xây dựng được kinh nghiệm. Đồng thời, cần có cơ quan chuyên trách giám sát quá trình đấu thầu dự án PPP để giảm tham nhũng. Cơ quan cấp trung ương cần đảm bảo có sân chơi bình đẳng để nhà thầu tham gia công bằng. Bên cạnh đó, cần có cơ chế quyết định đơn giản để rút ngắn thời gian thực hiện dự án PPP. Sự hỗ trợ của Chính phủ trong dự án PPP cần cân nhắc cụ thể, nếu không tư nhân không thấy hấp dẫn. Dự án PPP đã bị phê bình ở Anh cũng như một số nước vì quá phức tạp. Để tránh điều này, Việt Nam nên tạo ra những hợp đồng PPP ngắn gọn, đơn giản hơn.

 

Tuy nhiên, ông Adam Moncrieff cũng cho biết, qua kết luận của Cơ quan Kiểm toán của Anh, PFI tạo ra lợi ích thiết thực nhưng không phải trong mọi trường hợp. PFI chỉ phát huy lợi ích khi đảm bảo dự án được thực hiện đáng giá đồng tiền và hiệu quả hơn sử dụng thuần túy vốn khu vực công. Ông Adam Moncrieff cũng chỉ ra một số hạn chế của hình thức PFI là: chi phí cao cho việc bỏ thầu các dự án PFI; đạt được thỏa thuận thông qua những cuộc đàm phán phức tạp; có những vấn đề khác biệt giữa khu vực công và tư về cách thức hoạt động, quy trình ra quyết định và trách nhiệm khác nhau…

 

TS. Fernando Fernholz, Đại học Duke (Mỹ) lại đưa ra ví dụ về một dự án PPP tại Bồ Đào Nha. Đó là dự án Xây dựng đường cao tốc SCUT (dài 930 km), được triển khai từ năm 1999 đến năm 2001. Cơ quan chịu trách nhiệm đã không có phân tích thích đáng trong việc so sánh đầu tư theo hình thức PPP với đầu tư bằng nguồn vốn khu vực công đối với dự án này bởi trước năm 2006, Bồ Đào Nha chưa từng áp dụng phương pháp so sánh này khi sử dụng PPP. Đánh giá hậu kỳ cho thấy, khu vực công có thể tiết kiệm được hơn 3 tỉ Euro nếu đường cao tốc này được đấu thầu và quản lý theo phương thức truyền thống. 

 

IMGÔng Tom Nguyen, Trưởng bộ phận pháp chế khu vực Việt Nam, Campuchia và Lào của Ngân hàng Standard Chartered

Một số hình thức đầu tư có sự tham gia của tư nhân đã áp dụng như: xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT), xây dựng - chuyển giao (BT) không đủ đáp ứng nhu cầu phát triển cơ sở hạ tầng cần thiết để duy trì phát triển và hoạt động kinh doanh bền vững. Trong bối cảnh hiện nay, PPP là hình thức rất tiềm năng. Để tăng tính hấp dẫn cho dự án PPP, cần lược giản hóa quy trình thực hiện; có khung pháp lý rõ ràng, minh bạch trong quy trình thủ tục cấp giấy phép; có cơ chế điều phối để thúc đẩy dự án PPP và cơ chế phối hợp giữa các Bộ, ngành cần đơn giản và hiệu quả. Bên cạnh đó, cần có giải pháp để việc giải phóng mặt bằng không ảnh hưởng đến tiến độ dự án vì để đầu tư dự án PPP, nhà đầu tư tư nhân phải vay vốn ngân hàng thương mại với lãi suất cao, vấn đề chậm trễ về giải phóng mặt bằng tại Việt Nam gây lo ngại lớn đối với nhà đầu tư. Thách thức nữa là quy mô hầu hết các dự án PPP thí điểm đều rất lớn. Hiện nay, không có nhiều công ty, nhà đầu tư tư nhân có thể thích hợp cho những dự án quá lớn như vậy, trong trường hợp của Việt Nam rất cần các quỹ đầu tư.

Từ đó, TS. Fernando Fernholz đưa ra một số phương pháp để đánh giá PPP có xứng đáng với các chi phí bỏ ra hay không, như: phân tích chi phí - lợi ích đầy đủ; so sánh chi phí khu vực công thực hiện và chi phí thực hiện theo PPP trước khi mời thầu; so sánh chi phí khu vực công thực hiện và chi phí thực hiện theo PPP sau khi đấu thầu. Ông  Fernando Fernholz cho rằng, PPP là một giải pháp tốt khi khu vực công có khả năng đàm phán với nhà thầu tư nhân, biết rõ những hạn chế của đàm phán và hiểu được những giới hạn mà sử dụng đầu tư của khu vực tư nhân không còn tiếp tục mang lại lợi ích. 

 

TS. Fernando Fernholz cũng nhấn mạnh, trong thực tế, PPP có tiềm năng nâng cao hiệu quả dự án qua sự tham gia của khu vực tư nhân. Tuy nhiên, điều này chỉ xảy ra khi hiệu quả đạt được lớn hơn chi phí tăng thêm do nhà đầu tư tư nhân phải vay vốn ngân hàng thương mại với lãi suất cao để thực hiện dự án (thay vì Chính phủ đi vay với mức lãi suất thấp hơn). Để đạt được điều này, khu vực tư nhân phải có giải pháp đầu tư giúp giảm chi phí như: sử dụng tiêu chuẩn cao trong thi công, thường xuyên xử lý bảo trì và đầu tư vào công nghệ mới, hoặc đơn giản là quản lý tốt hơn với một quy trình đơn giản hơn...

Nguyệt Minh - Bích Khánh

 

trungnam