Chính sách giảm nghèo, hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số: Chuyển từ hỗ trợ sang đầu tư để nâng cao hiệu quả

Ngày 12/1, Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Ủy ban Dân tộc, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức Hội thảo trao đổi kinh nghiệm, đề xuất đổi mới chính sách giảm nghèo, hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số và vùng đặc biệt khó khăn.

Ngày 12/1, Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Ủy ban Dân tộc, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức Hội thảo trao đổi kinh nghiệm, đề xuất đổi mới chính sách giảm nghèo, hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số và vùng đặc biệt khó khăn. 

Hội thảo nhằm đánh giá kết quả thực hiện chính sách dân tộc của Nhà nước, đồng thời chỉ ra những hạn chế, tồn tại và làm rõ nguyên nhân để đề xuất giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả chính sách dân tộc hiện nay.
IMG
Nhiều chuyên gia và nhà quản lý cho rằng, chính sách giảm nghèo, hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số hiện vẫn còn mang tính ngắn hạn và chưa đồng bộ 

Theo thống kê, hiện nay cả nước có 130 chính sách dân tộc, được thể hiện tại 177 văn bản, 37 Nghị định và Nghị quyết của Chính phủ, 140 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ; trong đó Ủy ban Dân tộc quản lý 9 chính sách, các Bộ, ngành quản lý 121 chính sách. Nguồn lực được bố trí thực hiện chính sách vùng dân tộc, miền núi giai đoạn 2006 - 2012 là 150.000 tỷ đồng; các chính sách do Ủy ban Dân tộc quản lý được bố trí gần 32.000 tỷ đồng.
Tại hội thảo, các Bộ, ngành cho rằng, hệ thống chính sách dân tộc hiện đã khá đầy đủ, toàn diện trên các lĩnh vực và phủ kín các địa bàn vùng dân tộc, miền núi. Cơ chế, chính sách đã từng bước thay đổi về quan điểm, tư duy, khi thực hiện phân cấp cho địa phương trên cơ sở công khai, minh bạch công tác xây dựng và lập kế hoạch. Đáng chú ý là những thay đổi trong công tác hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số. Cụ thể, từ hỗ trợ trực tiếp cho từng hộ đã chuyển dần sang hỗ trợ cho cộng đồng, nhóm hộ; một số vùng đã thực hiện chuyển từ hỗ trợ sang đầu tư. 
Các chính sách cũng được quan tâm phối hợp giữa các Bộ, ngành và địa phương; vai trò của người dân và các đối tượng thụ hưởng được phát huy, tạo sự đồng thuận từ Trung ương đến địa phương trong các khâu xây dựng, thực hiện, kiểm tra và đánh giá chính sách. Trong điều kiện ngân sách còn khó khăn nhưng Nhà nước đã ưu tiên bố trí nguồn lực kết hợp với nguồn vốn tài trợ của các tổ chức quốc tế, các doanh nghiệp và địa phương để hỗ trợ, đầu tư phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc và miền núi. 
Ủy ban Dân tộc đánh giá, thông qua hệ thống chính sách hiện hành, bộ mặt nông thôn vùng dân tộc, miền núi thay đổi rõ rệt, nhất là hạ tầng kinh tế - xã hội. Một số vùng đã có bước phát triển kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa. Đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo vùng dân tộc thiểu số và miền núi có nơi giảm nhanh và cao hơn tỷ lệ giảm nghèo chung của cả nước. 
Bên cạnh thành công, Ủy ban Dân tộc và Bộ Kế hoạch và Đầu tư đều có chung nhận định, chính sách dân tộc của nước ta vẫn phải đối mặt với không ít  khó khăn, thách thức. Điều này được thể hiện ở vùng dân tộc và miền núi hiện là vùng khó khăn nhất nước, tỷ lệ hộ nghèo cao, giảm nghèo chưa bền vững, kết cấu hạ tầng thấp kém. Kết quả giảm nghèo cũng còn thiếu tính bền vững, tỷ lệ tái nghèo cao. Chất lượng giáo dục và nguồn nhân lực thấp; thiếu đất sản xuất… Nguyên nhân chủ yếu của những khó khăn, hạn chế là do đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống chủ yếu ở vùng núi cao, thường xuyên xảy ra thiên tai; xuất phát điểm về kinh tế - xã hội của vùng dân tộc miền núi thấp so với mặt bằng chung. Công tác dân tộc mang tính chất đa ngành, đa lĩnh vực, mô hình tổ chức quản lý nhà nước về công tác dân tộc từ khi thành lập đến nay đã trải qua nhiều mô hình tổ chức với chức năng nhiệm vụ khác nhau nên thiếu sự ổn định. 
Phân tích cụ thể những khó khăn của chính sách dân tộc, tại Hội thảo, đại diện một số Bộ, ngành cho rằng, vẫn còn có sự trùng lặp về đối tượng và địa bàn thụ hưởng chính sách; nội dung chính sách cũng chưa đồng bộ, chưa được kết nối để đảm bảo mục tiêu đề ra; chính sách còn mang tính ngắn hạn và thường có mục tiêu lớn nhưng thời gian và nguồn lực thực hiện không tương xứng… Kết quả dẫn đến đồng bào dân tộc thiểu số vẫn tiếp tục là nhóm nghèo, yếu thế nhất, dễ bị tổn thương nhất và dễ bị cư xử bất bình đẳng trong nền kinh tế thị trường. Biểu hiện sự bất bình đẳng về đời sống kinh tế là chênh lệch giàu - nghèo có xu hướng gia tăng. 
Để giải quyết những khó khăn về chính sách, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đề xuất, chính sách không nên bao cấp liên tục mà chỉ mang tính hỗ trợ trong giai đoạn nhất định. Cách tiếp cận xây dựng chính sách dân tộc giai đoạn 2016 - 2020 cần theo hướng đa mục tiêu, dài hạn, đa ngành, đa lĩnh vực và giảm đầu mối văn bản quản lý. Đặc biệt, cần mạnh mẽ chuyển từ chính sách hỗ trợ sang chính sách đầu tư; đối với những vùng khó khăn cần có những dự án trọng điểm cụ thể.
 Bài và ảnh: Ngô Trần

ngocthanh