Cần hiểu đúng bản chất của Giấy chứng nhận đầu tư

Ngày 14/12, tại Hà Nội, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) tổ chức Tọa đàm Luật Đầu tư và định hướng hoàn thiện để nêu ra những tồn tại, hạn chế của Luật Đầu tư năm 2005 và lấy ý kiến đóng góp, phục vụ cho công tác sửa đổi Luật trong thời gian tới.

Ngày 14/12, tại Hà Nội, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) tổ chức Tọa đàm Luật Đầu tư và định hướng hoàn thiện để nêu ra những tồn tại, hạn chế của Luật Đầu tư năm 2005 và lấy ý kiến đóng góp, phục vụ cho công tác sửa đổi Luật trong thời gian tới. Trong đó, các quy định liên quan đến thủ tục cấp giấy chứng nhận (GCN) đầu tư trong Luật Đầu tư thu hút được nhiều nhất sự quan tâm của các đại biểu tại Tọa đàm.

IMG

                                                                                             Ảnh: Tiên Giang

Căn cứ vào hồ sơ, trình tự, thủ tục và điều kiện đăng ký, thẩm định dự án đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư và Nghị định 108/2006/NĐ-CP, thì GCN đầu tư chỉ là văn bản chứng nhận việc nhà đầu tư đăng ký dự án của mình với cơ quan nhà nước có thẩm quyền (tức là đăng ký ý tưởng đầu tư, ý định bỏ vốn trung và dài hạn để thực hiện hoạt động đầu tư trên một địa bàn cụ thể trong một thời gian nhất định). 

 

Ông Quách Ngọc Tuấn, Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ KH&ĐT cho biết: Trên thực tế, việc đăng ký hay chấp thuận đầu tư chỉ là một thủ tục, một bộ phận trong toàn bộ quy trình thủ tục hành chính đối với dự án đầu tư xây dựng, gắn liền với các thủ tục hành chính khác, nhất là thủ tục về đất đai, xây dựng và môi trường. Tuy nhiên, đang có cách hiểu và nhận thức khác nhau về bản chất và ý nghĩa pháp lý của GCN đầu tư.

 

Ở nhiều địa phương, GCN đầu tư đang được sử dụng như một điều kiện để được vay vốn ngân hàng, thậm chí số vốn đầu tư ghi trong GCN đầu tư được sử dụng như yếu tố làm căn cứ xác định mức cho vay. Đối với trường hợp này, GCN đầu tư được hiểu là xác nhận sự thẩm định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án và đồng ý giao đất hoặc cho nhà đầu tư thuê đất cần thiết để thực hiện dự án đó. Tuy nhiên, cách hiểu này không đúng với bản chất và ý nghĩa của GCN đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư.

 

Đại diện Sở KH&ĐT Hà Nội cũng chia sẻ, GCN đầu tư như là một ghi nhận duy nhất của Nhà nước đối với một dự án đầu tư, nhưng trên thực tế, GCN này được sử dụng trong nhiều mục đích khác như: hoạt động sản xuất kinh doanh, huy động vốn, chuyển nhượng dự án. Trong khi về mặt pháp lý, Nghị định 113/2009/NĐ-CP ngày 15/12/2009 về giám sát và đánh giá đầu tư coi GCN đầu tư cũng là căn cứ duy nhất để Nhà nước thực hiện chế độ hậu kiểm đối với dự án đầu tư. Đối với việc giao đất, cho thuê đất, Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cũng quy định GCN đầu tư chỉ là một trong những căn cứ để xác định nhu cầu sử dụng và tiến hành giao đất, cho thuê đất… 

 

Do đó, đại diện Sở KH&ĐT Hà Nội cho rằng, việc sửa đổi Luật Đầu tư thời gian tới nên quy định rõ vai trò pháp lý của GCN này để tránh việc sử dụng sai mục đích.

 

Ngoài ra, việc thẩm tra cấp GCN đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư vẫn còn những vướng mắc: không có mẫu thống nhất; hồ sơ dự án đầu tư quá đơn giản, không tương thích với quy định của các luật khác có liên quan; nội dung thẩm tra còn chưa phù hợp với các dự án đầu tư. Với nội dung này, các đại biểu tham dự Tọa đàm cho rằng, Luật Đầu tư nên sửa đổi quy định về thẩm tra cấp GCN đầu tư nhằm làm rõ hồ sơ, quy trình, thủ tục, thời hạn thực hiện…, đồng thời bổ sung tiêu chí thẩm tra dự án phù hợp với quy hoạch và yêu cầu quản lý nhằm tránh tình trạng cấp phép tùy tiện, phá vỡ quy hoạch…

Hải Bình

 

ngocthanh