Không phân biệt đối xử – Nguyên tắc của WTO để bảo đảm công bằng trong mua sắm công

Khi tham gia các hoạt động mua sắm chính phủ, các nhà thầu nước ngoài thường mong được tạo cơ hội và đối xử bình đẳng như các nhà thầu trong nước cũng như các nhà thầu nước ngoài khác.

Khi tham gia các hoạt động mua sắm chính phủ, các nhà thầu nước ngoài thường mong được tạo cơ hội và đối xử bình đẳng như các nhà thầu trong nước cũng như các nhà thầu nước ngoài khác. Sự đối xử công bằng, bình đẳng đó sẽ được đảm bảo nếu các quốc gia tuân thủ một nguyên tắc nền tảng trong thương mại quốc tế – nguyên tắc không phân biệt đối xử (Non-Discrimination).

IMG

Trong các hiệp định đa phương của WTO, những quy định liên quan tới mua sắm chính phủ chủ yếu là những quy định về không phân biệt đối xử

 Ảnh: LTT

Khi thực hiện nghĩa vụ không phân biệt đối xử, các quốc gia phải dành cho sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ và nhà cung cấp của các nước khác, trong trường hợp giữa hai nước có cam kết thương mại, sự đối xử không kém thuận lợi hơn sự đối xử mà nước này dành cho sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ và nhà cung cấp trong nước (đối xử quốc gia – National Treatment) cũng như không được phân biệt đối xử giữa các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ và nhà cung cấp đến từ các nước khác với nhau (đối xử tối huệ quốc – Most Favoured Nation Treatment). Liên quan tới lĩnh vực mua sắm chính phủ, những quy định của WTO về không phân biệt đối xử được ghi nhận trong cả các hiệp định đa phương (Hiệp định chung về Thương mại và Thuế quan – GATT) và Hiệp định chung về thương mại dịch vụ – GATS) áp dụng bắt buộc với tất cả các thành viên của WTO; và các hiệp định nhiều bên, cụ thể là Hiệp định về mua sắm chính phủ năm 1994 (GPA 1994) và Hiệp định về mua sắm chính phủ sửa đổi năm 2012 (GPA 2012) – chỉ áp dụng với một số thành viên của WTO đồng thời là thành viên của các hiệp định nhiều bên này.

 

Trong các hiệp định đa phương của WTO, những quy định liên quan tới mua sắm chính phủ cũng chủ yếu là những quy định về không phân biệt đối xử. Theo đó, WTO yêu cầu các thành viên phải tuân thủ nghĩa vụ đối xử tối huệ quốc (Điều 1 của GATT và Điều 2 của GATS), nhưng lại cho phép họ có sự đối xử phân biệt, dành ưu đãi tốt hơn cho các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ và nhà cung cấp trong nước khi tiến hành các hoạt động mua sắm chính phủ. Điều đó có nghĩa là, với nguyên tắc đối xử quốc gia theo quy định của GATT và GATS, mua sắm chính phủ là một trường hợp ngoại lệ (Điều 3: 8(a) của GATT và Điều 13: 1 của GATS). Ngoại lệ này cũng được áp dụng với cả trường hợp chính phủ tiến hành việc mua sắm thông qua các doanh nghiệp nhà nước. Khi đó, các nghĩa vụ về đối xử quốc gia cũng sẽ không áp dụng đối với việc “nhập khẩu sản phẩm dành cho việc tiêu dùng ngay hay cuối cùng được tiêu dùng bởi các cơ quan chính phủ hay do chính phủ thanh toán mà không được bán lại hoặc được dùng để sản xuất hàng hóa nhằm mục đích bán lại” của Nhóm doanh nghiệp này (Điều 17 của GATT). 

 

Trong các hiệp định nhiều bên của WTO, nguyên tắc không phân biệt đối xử được quy định tại Điều 3 của GPA 1994 và tiếp tục được ghi nhận, không có sửa đổi tại Điều 4 của GPA 2012. Theo đó, các thành viên của GPA 1994 hay GPA 2012 đều phải tuân thủ cả hai nghĩa vụ đối xử tối huệ quốc và đối xử quốc gia đối với các hoạt động mua sắm thuộc phạm vi điều chỉnh của từng GPA. Không chỉ dừng lại ở việc đảm bảo sự đối xử công bằng giữa các nhà cung cấp nước ngoài với nhau và giữa các nhà cung cấp nước ngoài với các nhà cung cấp nội địa, GPA còn yêu cầu các thành viên phải đảm bảo không phân biệt đối xử giữa nhà cung cấp nội địa này với nhà cung cấp nội địa khác dựa trên việc quy định mức độ góp vốn hoặc tỷ lệ vốn nước ngoài, hoặc không được phân biệt đối xử nhằm chống lại một nhà cung cấp dựa trên việc quy định về xuất xứ của hàng hóa, dịch vụ sẽ được cung cấp. Cụ thể, các thành viên của GPA không được áp dụng các quy tắc xuất xứ đối với sản phẩm hoặc dịch vụ được nhập khẩu hoặc được cung cấp từ các thành viên khác phục vụ cho hoạt động mua sắm chính phủ theo một cách khác với các quy tắc xuất xứ đã được áp dụng trong những trường hợp thương mại thông thường và tại cùng thời điểm diễn ra các giao dịch liên quan tới việc nhập khẩu hoặc cung cấp các sản phẩm hoặc dịch vụ giống hệt (“the same products or services”) từ chính những thành viên đó. Tuy nhiên, các quy định nói trên sẽ không áp dụng với: (i) Thuế quan và các loại phí đánh vào hoặc có liên quan tới việc nhập khẩu; (ii) Phương pháp đánh thuế và phí, cũng như các quy tắc và thủ tục nhập khẩu khác và; (iii) Các biện pháp tác động đến thương mại dịch vụ mà không phải là các quy định trong luật, các quy tắc, các thủ tục và thực tiễn liên quan đến mua sắm chính phủ thuộc phạm vi điều chỉnh của GPA. Ngoài ra, các GPA cũng cho phép mỗi thành viên được đàm phán về phạm vi điều chỉnh với các thành viên khác trên cơ sở song phương và có đi có lại. Cũng cần lưu ý rằng, nguyên tắc không phân biệt đối xử trong GPA 1994 và GPA 2012 vẫn có những ngoại lệ như: (i) Mỗi thành viên được phép đưa ra những ngoại lệ sẽ được áp dụng trong lĩnh vực mua sắm chính phủ trong bản cam kết riêng của mình; (ii) Các nước đang phát triển và chậm phát triển nhất được dành sự đối xử đặc biệt và khác biệt theo quy định tại Điều 5 của GPA 1994 và GPA 2012; (iii) Các quy định của GPA sẽ không áp dụng đối với những hoạt động mua sắm chính phủ mà mục tiêu của việc mua sắm là nhằm xúc tiến các chương trình trợ giúp liên kết cho các nước đang phát triển; hay (iv) Các quốc gia có thể vận dụng các ngoại lệ chung trong trường hợp hành động cần thiết để bảo vệ các lợi ích chung, liên quan đến việc mua sắm các trang thiết bị quân sự và phục vụ cho chiến đấu, hoặc mua sắm các sản phẩm và dịch vụ thiết yếu phục vụ cho mục đích an ninh quốc phòng; để bảo vệ đạo đức và trật tự công cộng hoặc bảo vệ sinh mạng, sức khỏe con người, động thực vật; bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ hoặc liên quan đến các sản phẩm, dịch vụ được thực hiện bởi những người tàn tật, của các tổ chức từ thiện hoặc của lao động tù nhân (Điều 23 của GPA 1994 và Điều 3 của GPA 2012).

 

Có thể thấy, với nguyên tắc không phân biệt đối xử trong hoạt động mua sắm chính phủ, điểm khác biệt lớn nhất giữa các hiệp định đa phương và các hiệp định nhiều bên có liên quan của WTO chính là nghĩa vụ về đối xử quốc gia. Ở mức độ nào đó, các GPA đã tạo ra một “sân chơi chung, bình đẳng” dành cho các quốc gia và vùng lãnh thổ đã sẵn sàng gỡ bỏ những hàng rào bảo hộ cho những sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ và nhà cung cấp trong nước khi tiến hành các hoạt động mua sắm chính phủ. Với các nước còn lại, trong đó có Việt Nam, việc các GPA không cho phép có sự đối xử phân biệt và được dành ưu đãi tốt hơn cho những sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ và nhà cung cấp trong nước đã thực sự tạo ra một thách thức không nhỏ và là một cản trở lớn đối với họ trong việc quyết định có gia nhập các GPA hay không. Trên thực tế, cùng với việc ngày càng có nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ quyết định trở thành quan sát viên và gia nhập các GPA, vấn đề mở cửa thị trường mua sắm chính phủ đã được các thành viên của WTO quan tâm và chú trọng hơn. Rõ ràng, nếu tiếp tục duy trì sự phân biệt đối xử trong các hoạt động mua sắm chính phủ thì điều đó sẽ dẫn tới sự gia tăng không thể lường trước được những tác động tiêu cực tới thương mại. Và để giảm thiểu những tác động tiêu cực đó, các quốc gia cần có sự đối xử công bằng và bình đẳng trong thương mại quốc tế nói chung và lĩnh vực mua sắm chính phủ nói riêng, bởi đây chính là nguyên tắc quan trọng và nền tảng để thúc đẩy tự do hóa thương mại.

TS. Nguyễn Thị Thu Hiền

Bộ môn Pháp luật thương mại hàng hóa và dịch vụ quốc tế 

Đại học Luật Hà Nội

 

ngocthanh