Hậu cổ phần hóa, Nhà nước vẫn khó bán vốn

(BĐT) - Tính chung trong giai đoạn 2011 - 2015 đã có 488 doanh nghiệp nhà nước (DNNN) được cấp có thẩm quyền phê duyệt phương án cổ phần hóa (CPH) với tổng giá trị thực tế là 758.013 tỷ đồng và giá trị thực tế phần vốn nhà nước là 187.418 tỷ đồng. 
Sẽ đẩy mạnh cổ phần hóa những doanh nghiệp mà Nhà nước không cần nắm giữ cổ phần chi phối, kể cả những đơn vị đang kinh doanh có hiệu quả. Ảnh: Hiếu Trần
Sẽ đẩy mạnh cổ phần hóa những doanh nghiệp mà Nhà nước không cần nắm giữ cổ phần chi phối, kể cả những đơn vị đang kinh doanh có hiệu quả. Ảnh: Hiếu Trần

Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều DNNN thuộc diện Nhà nước không cần nắm giữ cổ phần chi phối vẫn không bán được cổ phần, việc thu hút nhà đầu tư chiến lược từ nước ngoài tham gia mua cổ phần lần đầu của các DN CPH chưa đạt được kết quả tích cực.

Nhiều nguyên nhân làm chậm cổ phần hóa DNNN

Theo TS. Nguyễn Đức Độ, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế tài chính thuộc Học viện Tài chính, CPH các DNNN là một trong những trọng tâm của quá trình chuyển đổi nền kinh tế sang cơ chế thị trường. Tuy nhiên, trong suốt 3 thập kỷ cải cách mở cửa (kể từ năm 1986 đến nay), quá trình CPH các DNNN tại Việt Nam lại diễn ra tương đối chậm chạp.

Việc chậm trễ CPH được cho là một trong những nguyên nhân cốt lõi dẫn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của khu vực kinh tế nhà nước thấp trong những năm gần đây, từ đó kéo tăng trưởng của nền kinh tế xuống thấp hơn mức trung bình của giai đoạn trước. Thống kê của Tổng cục Thống kê cho thấy, tính từ năm 2005 đến nay, tốc độ tăng trưởng trung bình của khu vực kinh tế nhà nước chỉ đạt mức 5,2%, thấp hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng của khu vực kinh tế tư nhân, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, thậm chí cả khu vực kinh tế cá thể.

Theo TS. Nguyễn Đức Độ, nguyên nhân chậm trễ CPH tại Việt Nam là do tư duy, quan niệm về vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế; lợi ích của bản thân các DNNN trong nền kinh tế thị trường hiện nay; thiếu các chế tài để bảo đảm kế hoạch CPH diễn ra theo tiến độ. Đặc biệt, cơ chế, chính sách thiếu đồng bộ đã khiến các DNNN có đủ lý do để trì hoãn việc thực hiện nhiệm vụ CPH…

Ông Đặng Quyết Tiến, Phó Cục trưởng Cục Tài chính doanh nghiệp thuộc Bộ Tài chính chia sẻ, sau CPH, nhiều DNNN thuộc diện Nhà nước không cần nắm giữ cổ phần chi phối nhưng không bán được cổ phần. Do vậy, tỷ lệ vốn nhà nước cao, dẫn đến mục tiêu đổi mới quản trị và thu hút vốn từ bên ngoài cho phát triển DN không đạt được.

Ngay cả việc thu hút nhà đầu tư nước ngoài tham gia mua cổ phần lần đầu của các DN CPH cũng chưa được nhiều. Qua rà soát 426 DN đã triển khai bán cổ phần lần đầu trong giai đoạn 2011 - 2015, có 70 DN mà Nhà nước nắm giữ trên 90% vốn điều lệ; 82 DN Nhà nước nắm giữ trên 65% vốn điều lệ; 96 DN Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ; 156 DN Nhà nước nắm giữ dưới 50% vốn điều lệ.

Ông Vũ Bằng, Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước nêu thực tế, nhiều DN không thực hiện bán hết được số lượng cổ phần chào bán; tỷ lệ số cổ phần chào bán so với tổng số cổ phần của DN và tỷ lệ tổng số cổ phần chào bán được so với tổng số cổ phần của DN còn thấp, cá biệt có DN tỷ lệ dưới 5%, khiến cho việc thay đổi bản chất hoạt động của DN sau CPH còn chậm; tỷ lệ tham gia của nhà đầu tư tổ chức nước ngoài còn rất thấp và đặc biệt chỉ tập trung vào một số DN có quy mô vốn lớn như các tổng công ty, tập đoàn. Bên cạnh đó, nhiều DN sau CPH không niêm yết/đăng ký giao dịch cổ phiếu trên TTCK dẫn đến hạn chế tính công khai, minh bạch và đổi mới quản trị... 

Bán vốn nhà nước tại cả các doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả

Tính chung trong giai đoạn 2011 - 2015 đã có 488 doanh nghiệp nhà nước được cấp có thẩm quyền phê duyệt phương án cổ phần hóa với tổng giá trị thực tế là 758.013 tỷ đồng và giá trị thực tế phần vốn nhà nước là 187.418 tỷ đồng
Theo Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII và các nghị quyết của Quốc hội về phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2016 - 2020, việc tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại DNNN là một trong các nội dung trọng tâm của tái cơ cấu nền kinh tế và cần phải đảm bảo theo các định hướng và mục tiêu sắp xếp như: DNNN chỉ tập trung vào những lĩnh vực then chốt, thiết yếu; những địa bàn quan trọng và quốc phòng, an ninh; những lĩnh vực mà DN thuộc các thành phần kinh tế khác không đầu tư. Đẩy mạnh CPH, bán vốn tại những DN mà Nhà nước không cần nắm giữ cổ phần chi phối, kể cả những DN đang kinh doanh có hiệu quả.

Ông Đặng Quyết Tiến cho rằng, để đẩy nhanh tiến độ sắp xếp, CPH DNNN giai đoạn 2016 - 2020, cần phân loại DNNN theo các nhóm: Nhà nước nắm 100% cổ phần, Nhà nước nắm giữ từ 65% tổng số cổ phần trở lên, Nhà nước nắm giữ trên 50% đến dưới 65% tổng số cổ phần và cuối cùng là nhóm DNNN mà Nhà nước nắm giữ dưới 50% vốn điều lệ đến không giữ cổ phần. Việc thoái vốn phải thực hiện theo nguyên tắc thị trường. Bên cạnh đó, các tập đoàn, tổng công ty nhà nước tiếp tục thực hiện tái cơ cấu toàn diện, sắp xếp lại DN, đổi mới công tác quản trị DN…

Liên quan cụ thể đến hoàn thiện khung pháp luật về CPH, thoái vốn DNNN, ThS. Trịnh Đức Chiều thuộc Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương cho rằng, cần tập trung vào một số cơ chế, chính sách như cho phép DNNN thoái vốn đầu tư dưới mệnh giá hoặc dưới giá trị sổ sách kế toán của DN sau khi đã trừ đi khoản dự phòng tổn thất các khoản đầu tư tài chính theo quy định và trên cơ sở phương án đã được chủ sở hữu xem xét, quyết định.

Bên cạnh đó, có thể chuyển nhượng các khoản đầu tư tại các công ty cổ phần chưa niêm yết có giá trị tính theo mệnh giá từ 10 tỷ đồng trở lên, DN được lựa chọn thuê công ty chứng khoán bán đấu giá hoặc tự tổ chức đấu giá tại DN. Trường hợp đấu giá không thành công, DN báo cáo chủ sở hữu xem xét, quyết định bán thỏa thuận. Ngoài ra, có thể thực hiện chào bán ra công chúng cổ phần DN đã đầu tư tại các công ty đại chúng có hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Thu Giang