Áp thuế tự vệ tạm thời 23,3% cho phôi thép và 14,2% cho thép dài từ 22/3

Đặc biệt, thép hợp kim có chứa nguyên tố Bo và/hoặc Crom trừ chủng loại thép cán phẳng được cán nóng (HS 9811.00.00) trước đây được áp thuế 0% giờ bị áp thuế tự vệ 14,2%.
Áp thuế tự vệ tạm thời 23,3% cho phôi thép và 14,2% cho thép dài từ 22/3

Ngày 7/3/2015, Bộ trưởng Bộ Công thương đã chính thức áp dụng biện pháp tự vệ tạm thời đối với mặt hàng phôi thép và thép dài nhập khẩu vào Việt Nam từ các nước với mã HS:7207.11.00; 7207.19.00, 7207.20.29; 7207.20.99; 7224.90.00; 7213.10.00; 7213.91.20; 7214.20.31; 7214.20.41; 7227.90.00; 7228.30.10; 9811.00.00.

Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày ký, tức là sẽ áp dụng kể từ ngày 22/3/2016, áp dụng trong khoảng thời gian không vượt quá 200 ngày tức là đến hết ngày 7/10/2016.

Theo đó, mức thuế tự vệ tạm thời đối với phôi thép là 23,3% dưới dạng thuế nhập khẩu bổ sung được áp dụng cho hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam với mặt hàng sắt hoặc thép không hợp kim ở dạng bán thành phẩm (mã 7207), cụ thể với mã 7207.11.00 mặt cắt ngang hình chữ nhật (kể cả hình vuông) có chiều rộng nhỏ hơn hai lần chiều dày (trước đó thuế áp dụng là 9%); 7207.19.00; với mặt hàng 7207.20 có hàm lượng carbon từ 0,25% trở lên tính theo trọng lượng; 7224 thép hợp kim khác ở dạng thỏi đúc hoặc dạng thô, các bán thành phẩm bằng thép hợp kim cũng bị áp dụng thuế tự vệ 23,3%.

Đối với thép dài, mức thuế tự vệ tạm thời là 14,2% dưới dạng thuế nhập khẩu bổ sung. Áp dụng cho sắt hoặc thép không hợp kim, dạng thanh và que, dạng cuộn cuốn không đều, được cán nóng (HS 7213); sắt hoặc thép không hợp kim ở dạng thanh và que khác chưa được gia công quá mức rèn, cán nóng, kéo nóng hoặc ép đùn nóng, nhưng kể cả những dạng này được xoắn sau khi cán (HS 7214); các dạng thanh và que, của thép hợp kim khác, được cán nóng, dạng cuộn không đều (HS 7227), các dạng thanh và que khác bằng thép hợp kim khác, các dạng góc khuôn và hình bằng thép hợp kim khác, thanh và que rỗng bằng thép hợp kim hoặc không hợp kim (7228). Đặc biệt, thép hợp kim có chứa nguyên tố Bo và/hoặc Crom trừ chủng loại thép cán phẳng được cán nóng (HS 9811.00.00) trước đây được áp thuế 0% giờ bị áp thuế tự vệ 14,2%.

Văn bản của Bộ Công thương quy định áp dụng biện pháp tự vệ tạm thời với hàng hóa nhập khẩu từ tất cả các quốc gia/vùng lãnh thổ khác nhau, ngoại trừ các nước đang phát triển và kém phát triển có lượng xuất khẩu vào Việt Nam không quá 3% tổng lượng nhập khẩu của Việt Nam từ tất cả cá quốc gia/vùng lãnh thổ. Để miễn trừ thuế tự vệ tạm thời, khi nhập khẩu hàng hóa phải cung cấp cho hải quan giấy chứng nhận xuất xứ và giấy chứng nhận chất lượng hàng hóa.

Biện pháp tự vệ tạm thời sẽ chấm dứt hiệu lực trong trường hợp Bộ Công thương ra quyết định áp dụng biện pháp tự vệ chính thức. Trong trường hợp quyết định cuối cùng của Bộ trưởng Bộ Công thương cho thấy việc thi hành biện pháp tự vệ tạm thời là chưa cần thiết hoặc mức thuế tự vệ cuối cùng thấp hơn mức thuế tự vệ tạm thời đã áp dụng thì khoản chênh lệch thuế đó sẽ được hoàn trả cho người nộp thuế theo quy định của pháp luật.

Trước đó, Bộ Công thương đã ra quyết định điều tra áp dụng biện pháp tự vệ với thép hợp kim và phôi thép nhập khẩu. Với kết quả điều tra trong năm 2015 giá bán hàng nhập khẩu giảm nhanh và mạnh gần 30% gây sức ép lớn tới giá bán của hàng hóa trong nước, doanh nghiệp sản xuất trong nước không có lãi, đối với thép dài, mức giảm của hàng hóa nhập khẩu là hơn 20% trong năm 2015.

Theo số liệu nhập khẩu của Tổng cục Hải quan, lượng nhập khẩu phôi thép vào Việt Nam tăng liên tục từ 348,872 tấn năm 2013 lên đến 592,033 tấn năm 2014 (tăng 69.70%) và tăng đến mức 1,885,981 tấn năm 2015 (tăng 218% so với năm 2014 và tăng 440% so với năm 2013). Đối với thép dài, có thể thấy rằng, lượng nhập khẩu vào Việt Nam tăng liên tục từ 387,448 tấn năm 2012 lên đến 665,679 tấn năm 2013; tăng tiếp tục lên mức 872,119 tấn năm 2014 và tăng đến mức 1,282,090 tấn năm 2015 (tăng 231% so với năm 2012).

Điều này dẫn đến lượng tồn kho trong nước tăng rất nhanh trong năm 2015, lượng tồn kho phôi thép tăng 37% trong khi lượng tồn kho thép dài tăng 39%, chiếm gần 10% tổng lượng sản xuất của taofn ngành năm 2015, thị phần của mặt hàng phôi thép và thép dài liên tục giảm trong giai đoạn 2013-2015 trong khi thị phần của hàng nhập khẩu tăng liên tục trong giai đoạn 2012-2015. Mặc dù lượng bán hàng trong nước đều tăng nhưng doanh thu giảm, các nhà sản xuất phôi thép lỗ nặng.

Theo Phương Mai
ĐTCK