4 động lực phát triển ngành ngân hàng

Ngành ngân hàng đang đứng trước ngưỡng cửa hội nhập quan trọng và có dịp” lặp lại giai đoạn phát triển thần kỳ như năm 2006
4 động lực phát triển ngành ngân hàng

Ngành ngân hàng Việt Nam trong những năm qua, nhất là trong giai đoạn 2011-2015 đã có nhiều đóng góp quan trọng cho sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Với sự chủ động, tích cực và những giải pháp đồng bộ, ngành ngân hàng đã hội nhập và phát triển một cách rất vững vàng.

Trong năm 2016, hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) có nhiều động lực để tiếp tục phát triển hơn nữa và đạt được các mục tiêu kinh doanh đã đề ra.

Tiếp tục hội nhập và mở cửa thị trường

Sức khỏe của hệ thống ngân hàng nhìn chung cũng đang trên đà được cải thiện, với những nỗ lực của NHNN thúc đẩy việc tái cơ cấu ngân hàng yếu kém và trong toàn bộ hệ thống, cũng như trong việc cải thiện thanh khoản, và nâng cao chất lượng tài sản chủ yếu nhờ giảm tỷ lệ nợ xấu (chủ yếu thông qua VAMC). Tính ổn định của hệ thống còn được cải thiện nhờ chính sách tiền tệ và tín dụng thận trọng hơn, buộc các ngân hàng chuyển hướng sang các lĩnh vực có thu nhập khác mà không cần phải dựa quá mức vào đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng để tìm kiếm lợi nhuận như trước đây.

Hiện tại, một số ngân hàng lớn của Việt Nam đã mở rộng đầu tư sang các nước ASEAN, đặc biệt Lào, Campuchia, Myanmar... Đầu tư ra nước ngoài không dễ dàng, nhưng các ngân hàng này đã hoạt động có hiệu quả. Các ngân hàng, trong đó có BIDV, SHB, Sacombank đang kinh doanh tốt tại Lào, Campuchia và có tỷ lệ lợi nhuận hấp dẫn hơn ở Việt Nam: ROE đạt tới hơn 10%, con số này không dễ đạt được ở Việt Nam trong thời gian gần đây.

Ngoài ra, cũng có nhiều NHTM đã mở chi nhánh, văn phòng đại diện và công ty con ở nước ngoài như Vietcombank có văn phòng đại diện tại Singapore và công ty con tại Hongkong, Sacombank và SHB có ngân hàng 100% vốn ở Lào; Ngân hàng MB mở chi nhánh nước ngoài tại Lào, Campuchia; VietinBank mở chi nhánh ở Berlin (Đức), có văn phòng đại diện tại Singapore, Paris (Pháp), …

Trước yêu cầu hội nhập quốc tế, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cũng không ngừng nỗ lực, củng cố quan hệ hợp tác với các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế, tìm kiếm mở rộng quan hệ với các đối tác tiềm năng nhằm tăng cường huy động, hỗ trợ cả về tài chính và kỹ thuật cho Việt Nam.

Với hàng loạt các Hiệp định tự do thương mại (FTA) mà Việt Nam đã tham gia trong thời gian vừa qua và các FTA mà Việt Nam sẽ ký kết chính thức trong thời gian tới, đặc biệt là Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP), rõ ràng ngành ngân hàng Việt Nam sẽ có rất nhiều thuận lợi để phát triển kinh doanh trong năm 2016.

Đầu tiên phải kể đến các luồng vốn đầu tư quốc tế vào Việt nam sẽ tăng trưởng mạnh trong thời gian tới tạo thuận lợi cho hệ thống ngân hàng tăng cường thanh khoản và gia tăng cơ hội kinh doanh. Ngoài ra, hệ thống ngân hàng có điều kiện tiếp cận với các nguồn vốn ủy thác trên thế giới với chi phí thấp hơn do vị thế của Việt Nam sẽ cải thiện nhiều sau khi gia nhập các FTA, đặc biệt là TPP. Nhờ đó, ngành Ngân hàng “có dịp” lặp lại giai đoạn phát triển thần kỳ như năm 2006 khi Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), nhưng cường độ có thể thấp hơn.

Thứ hai, các FTA sẽ tạo triển vọng cho ngành thương mại Việt Nam đạt mức tăng trưởng mạnh mẽ, mở ra cơ hội cho các NHTM Việt Nam đồng hành hỗ trợ vốn, dịch vụ, thu đổi ngoại tệ, thanh toán quốc tế, bảo hiểm, … cho các doanh nghiệp xuất khẩu.

Thứ ba, lĩnh vực tài chính – ngân hàng sẽ được mở rộng hơn theo các cam kết trong FTA. Ngoài cơ hội thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào ngành ngân hàng – một ngành cần vốn, công nghệ và năng lực quản lý điều hành cao, các NHTM còn có nhiều khả năng được nới “room” thêm nữa cho các đối tác chiến lược nước ngoài. Việc tham gia sâu rộng của nhà đầu tư nước ngoài cũng sẽ tạo điều kiện mở rộng hợp tác, nâng cao năng lực quản trị và tài chính cho các ngân hàng nội địa. Đây có thể là cơ sở để phát triển ngành bền vững ngân hàng Việt Nam trong tương lai.

Thứ tư, tăng khả năng tìm kiếm nhân sự cấp cao cho ngân hàng và đặc biệt là khả năng đổ bộ của những sản phẩm, dịch vụ mới mà những ngân hàng của các quốc gia trong FTA mang vào thị trường Việt Nam để tăng khả năng phát triển, đa dạng hoá thị trường tài chính ở Việt Nam.

Đa dạng hoá sản phẩm, dịch vụ ngân hàng

Một đặc điểm riêng của hoạt động kinh doanh ngân hàng là sản phẩm dịch vụ ngân hàng mang tính bổ trợ cao. Mỗi sản phẩm ra đời dựa trên sự phát triển của dịch vụ truyền thống và kéo theo sự phát triển của nhiều loại hình dịch vụ mới. Sản phẩm, dịch vụ ngân hàng phát triển giúp cho hoạt động huy động vốn, cấp tín dụng và đầu tư cũng phát triển theo.

Đa dạng hóa sản phẩm là điểm mạnh và mũi nhọn để phát triển dịch vụ ngân hàng cá nhân, hình thành bộ phận nghiên cứu chuyên trách phát triển sản phẩm. Trong đó, tập trung vào những sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao, có đặc điểm nổi trội trên thị trường nhằm tạo sự khác biệt trong cạnh tranh, tận dụng các kênh phân phối mới để đa dạng hóa sản phẩm, mở rộng và phát triển tín dụng tiêu dùng sẽ tạo ra nhiều lợi thế cho các ngân hàng để tăng doanh thu.

Ngoài ra, ngân hàng cũng cần tiếp tục phát triển và mở rộng các sản phẩm dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt nhằm phát huy hiệu quả và tính năng kỹ thuật của công nghệ mới, góp phần hạn chế giao dịch tiền mặt bất hợp pháp, nhanh chóng nâng cao tính thanh khoản của VNĐ và hiệu quả sử dụng vốn trong nền kinh tế. Đẩy mạnh các dịch vụ tài khoản tiền gửi với thủ tục đơn giản, an toàn nhằm thu hút nguồn vốn của cá nhân trong thanh toán và phát triển dịch vụ thanh toán thẻ, séc thanh toán cá nhân, đẩy mạnh huy động vốn qua tài khoản tiết kiệm.

Các NHTM cũng cần tăng cường hợp tác với các tổ chức và doanh nghiệp có các khoản thanh toán dịch vụ thường xuyên, ổn định số lượng khách hàng, trả lương như bưu điện, hàng không, điện lực, cấp thoát nước, kinh doanh xăng dầu.

Các ngân hàng cũng phải tập trung phát triển các sản phẩm, dịch vụ khác như tăng cường thu hút nguồn kiều hối trên cơ sở phối hợp với các công ty xuất khẩu lao động, các công ty dịch vụ kiều hối, tổ chức chuyển tiền ở nước ngoài, các ngân hàng đại lý nước ngoài. Có chính sách khai thác và tạo điều kiện thuận lợi phát triển dịch vụ chuyển tiền kiều hối qua hệ thống ngân hàng. Triển khai dịch vụ quản lý tài sản, ủy thác đầu tư, cung cấp thông tin và tư vấn cho khách hàng. Tăng cường bán chéo sản phẩm dịch vụ giữa ngân hàng và bảo hiểm.

Phát triển sản phẩm, dịch vụ là hướng đi bền vững cho NHTM. Trong các lĩnh vực hoạt động chính sinh lời của NHTM, cấp tín dụng là hoạt động truyền thống đã được các NHTM khai thác một cách triệt để. Hoạt động đầu tư có nhiều rủi ro, nhất là khi thị trường biến động. Hoạt động dịch vụ có thể mang lại khoản thu nhập đáng kể với rủi ro có thể kiểm soát được. Đây là điểm mạnh của dịch vụ ngân hàng cần được khai thác, đặc  biệt đối với thị trường có dân số gần 92 triệu dân như Việt Nam hiện nay.

Có thể nhận thấy khi hoạt động tín dụng của ngân hàng gặp khó khăn trong một số thời kỳ hoặc không thể tiếp tục phát triển, cơ cấu thu nhập của ngân hàng trong trường hợp này sẽ bị thay đổi theo hướng tiêu cực. Khi đó, đối với ngân hàng có mảng hoạt động dịch vụ chưa được đầu tư và phát triển đáng kể, nền tảng dịch vụ yếu sẽ không đủ sức để có thể đảm bảo cân bằng tình hình tài chính của ngân hàng. Do đó, tất yếu đòi hỏi ngân hàng cần có tầm nhìn xa hơn trong việc định hướng nghiên cứu và phát triển mạnh hoạt động phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng.

Nâng cao năng lực quản trị ngân hàng

Việc nâng cao năng lực quản trị sẽ giúp ngân hàng hoạt động hiệu quả hơn và tạo ra nhiều lợi nhuận hơn. Để nâng cao năng lực quản trị, quản trị NHTM cần được quan tâm từ nhiều hướng, cả trên góc độ tổng thể như xác định mục tiêu, chiến lược đến tổ chức, hoạt động và quản trị nội bộ, trong đó có quản trị rủi ro, quản trị tài chính, quản trị nhân lực, ... Các NHTM cần chủ động xây dựng chiến lược phát triển và chiến lược quản trị, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào điều hành và quản lý, phân tích và phòng ngừa rủi ro. Các NHTM cần có chiến lược kinh doanh dài hạn, chắt lọc kinh nghiệm tốt để có thể hoạt động an toàn trong mọi tình huống.

Năng lực quản trị, đặc biệt là năng lực quản trị nội bộ của ngân hàng là yếu tố quyết định sự thành công hay thất bại trong kinh doanh của ngân hàng. Vì vậy, quản trị ngân hàng nói chung và quản trị rủi ro nói riêng, cần dựa trên một số nguyên tắc sau: nguyên tắc chấp nhận rủi ro; nguyên tắc điều hành rủi ro cho phép; nguyên tắc quản lý độc lập các rủi ro riêng biệt; nguyên tắc phù hợp giữa mức độ rủi ro cho phép và khả năng tài chính; nguyên tắc hiệu quả kinh tế, nguyên tắc hợp lý về thời gian và phù hợp với chiến lược chung của ngân hàng.

Để thực hiện tốt những nguyên tắc này, ngoài việc quản lý tốt tài sản nợ - tài sản có theo nguyên tắc của Uỷ ban Basel, xây dựng văn hoá quản trị lành mạnh, tạo môi trường thuận lợi cho việc áp dụng các nguyên tắc và thông lệ quản trị rủi ro, các NHTM cần chú trọng nâng cao chất lượng công tác kiểm soát nội bộ trên cơ sở áp dụng hệ thống công nghệ ngân hàng hiện đại, để phát hiện những tiềm ẩn rủi ro, có biện pháp ngăn chặn kịp thời. Nhưng cũng không nên quá nhấn mạnh đến kiểm tra, kiểm soát nội bộ vì việc đó sẽ dễ đánh mất tính sáng tạo trong công việc.

Phát triển ngân hàng điện tử

Phát triển các dịch vụ của ngân hàng điện tử (NHĐT) là xu hướng tất yếu, mang tính khách quan trong nền kinh tế hiện đại, trong thời đại hội nhập kinh tế quốc tế. Lợi ích đem lại của NHĐT là rất lớn cho khách hàng, ngân hàng và cho nền kinh tế nhờ tính tiện ích, tiện lợi, nhanh chóng, chính xác và bảo mật. Thực hiện các hoạt động dịch vụ NHĐT, cho phép các Ngân hàng thích ứng nhanh chóng với những thay đổi của thị trường, điều chỉnh kịp thời phí, lãi suất, tỷ giá phù hợp với diễn biến của tình hình thị trường; hạn chế rủi ro do biến động về giá cả của thị trường gây ra. Đây là các lợi ích vượt trội so với ngân hàng truyền thống.

Ngoài ra, sự kết hợp hài hoà trong quá trình phát triển các hoạt động dịch vụ ngân hàng truyền thống và phát triển NHĐT, cho phép các ngân hàng tiếp cận nhanh với các phương pháp quản lý hiện đại giúp các ngân hàng đa dạng hoá sản phẩm, tăng doanh thu, nâng cao hiệu quả hoạt động và đặc biệt là nâng cao khả năng cạnh tranh trong nền kinh tế hội nhập.

Nhiều sản phẩm dịch vụ NHĐT như Internet Banking, mobile Banking, SMS Banking… đang được các ngân hàng đầu tư với chất lượng cao và ngày càng cải thiện. Bên cạnh các tiện ích cơ bản như truy vấn tài khoản, thanh toán, chuyển khoản, dịch vụ NHĐT còn cung cấp nhiều tiện ích khác như thanh toán hóa đơn điện, nước, điện thoại, Internet, nạp tiền điện thoại; gửi tiền trực tuyến; sao (copy) giao dịch, lưu tạm giao dịch, rút tiền tại máy ATM không sử dụng thẻ, ... Với các hình thức giao dịch trực tuyến này, khách hàng không phải tốn nhiều thời gian để chờ đợi khi giao dịch tại quầy và không bị giới hạn về thời gian làm việc. Khách hàng có thể giao dịch bất cứ lúc nào, hoặc bất cứ nơi đâu khách hàng cảm thấy thuận tiện.

Có thể nói, giao dịch NHĐT đang trở thành xu hướng phát triển tất yếu trong phương tiện thanh toán bởi tính tiện lợi cho người sử dụng cũng như tính hiệu quả đối với ngân hàng cung cấp dịch vụ.

Tóm lại, ngành ngân hàng sẽ có nhiều động lực để phát triển trong năm 2016, trong đó phải kể đến các động lực chính như: ngành ngân hàng tiếp tục hội nhập, mở cửa thị trường; đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ ngân hàng; nâng cao năng lực quản trị ngân hàng và phát triển ngân hàng điện tử.

Theo TS. Bùi Quang Tín
Trí thức trẻ

Tin liên quan