Những lần ứng viên tổng thống Mỹ thắng phiếu phổ thông nhưng bại trận

Hillary Clinton nhận được số phiếu phổ thông cao hơn Donald Trump nhưng vẫn thua cuộc. Lịch sử bầu cử Mỹ ghi nhận ba trường hợp tương tự trước đây.

Trong cuộc bầu cử tổng thống năm nay, Hillary Clinton nhận được 60,2 triệu phiếu phổ thông, cao hơn 300.000 phiếu so với số phiếu 59,9 của đối thủ Donald Trump. Tuy nhiên, ông Trump mới là người đắc cử nhờ nhận được 290 phiếu đại cử tri, cao hơn mức 270 phiếu cần thiết để trở thành tổng thống, theo AP.

Đây là lần thứ 4 một ứng viên tổng thống thua cuộc dù nhận được số phiếu phổ thông cao hơn đối thủ, theo Christian Post. Một sự trùng hợp ngẫu nhiên là cả 4 ứng viên như vậy đều thuộc phe Dân chủ.

Năm 1876

Những lần ứng viên tổng thống Mỹ thắng phiếu phổ thông nhưng bại trận - ảnh 1
Ứngviên đảng Dân chủ Samuel J. Tilden (trái) và đối thủ đảng Cộng hòa Rutherford B. Hayes. Ảnh:Atlantic
Trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ năm 1876, ứng viên đảng Dân chủ Samuel J. Tilden đã thua cuộc sát nút trước ứng viên đảng Cộng hòa Rutherford B. Hayes. Tiden nhận được 184 phiếu đại cử tri, thấp hơn đúng một phiếu đại cử tri so với đối thủ Hayes (Mỹ thời điểm này có 369 đại cử tri, cần 185 phiếu đại cử tri để chiến thắng). Điều đau đớn hơn là Tiden thua cuộc dù nhận được 4,3 triệu phiếu phổ thông, cao hơn con số 4,03 triệu của đối thủ.

Đó là một cuộc bầu cử đầy tranh cãi khi mà mất nhiều tháng trời để phân định ai là người nhận được số phiếu đại cử tri cao hơn do các kiện tụng từ hai phía. Tranh cãi chỉ được giải quyết xong ngay trước ngày tổ chức lễ tuyên thệ nhậm chức tổng thống.

Chiến thắng của Hayes được giới học giả nhìn nhận như là sự nhượng bộ của phe Dân chủ ở miền nam nước Mỹ, những người chấp nhận ủng hộ Hayes làm tổng thống để đổi lại cam kết chấm dứt thời kỳ Tái thiết (1865 - 1877), thời kỳ tái xây dựng nền kinh tế và tổ chức lại chính trị ở miền nam sau cuộc nội chiến Mỹ.

"Thế bế tắc được tháo gỡ sau những cuộc họp kín khi phe Dân chủ miền nam nhất trí ủng hộ Hayes đắc cử tổng thống nếu ông tán thành tăng chi tiêu cho các cải cách nội bộ ở miền nam và đồng ý chấm dứt kỷ nguyên Tái thiết, bảo đảm quyền tự trị - tức người da trắng nắm quyền kiểm soát ở miền nam.

"Hayes trở thành tổng thống và phe Dân chủ miền nam có thể đảo ngược những lợi thế mà người da màu có được trong thời kỳ Tái thiết", học giả Richard Wormser nhận định trong một bài viết cho PBS.

Năm 1888

Những lần ứng viên tổng thống Mỹ thắng phiếu phổ thông nhưng bại trận - ảnh 2
Hai ứng viên trong cuộc đua vào Nhà Trắng năm 1888. Ảnh:Facts.net
Lịch sử lặp lại trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1888 khi ứng viên tổng thống đảng Dân chủ Grover Cleveland, tổng thống Mỹ đương nhiệm vào lúc đó, dù có phiếu bầu phổ thông cao hơn nhưng vẫn thất bại trước ứng viên đảng Cộng hòa Benjamin Harrison.

Cleveland giành được 5,5 triệu phiếu thổ thông, nhỉnh hơn 100.000 phiếu so với đối thủ Harrison. Tuy nhiên, số phiếu phổ thông cao hơn chỉ mang lại cho Cleveland 168 phiếu đại cử tri, trong khi đó, đối thủ Harrison nhận được đến 233 phiếu đại cử tri nhờ chiến thắng ở hầu hết các bang miền bắc và ba bang miền tây gồm California, Oregon và Nevada. Mỹ thời điểm này có 401 đại cử tri, người chiến thắng cần ít nhất 201 phiếu.

Cleveland thắng ở toàn bộ các bang miền nam nhưng lúc bấy giờ, số phiếu đại cử tri được phân bổ ở một số bang lớn ở miền nam như Texas và Florida lần lượt chỉ là 13 và 4, thấp hơn nhiều so với con số 38 và 29 hiện nay.

Năm 2000

Những lần ứng viên tổng thống Mỹ thắng phiếu phổ thông nhưng bại trận - ảnh 3
George W. Bush (phải) vàAl Gore. Ảnh:veteranstoday
Cuộc bầu cử tổng thống năm 2000 chứng kiến một cuộc so kè sít sao nhất trong lịch sử Mỹ giữa ứng viên tổng thống đảng Cộng hòa George W. Bush và đối thủ đảng Dân chủ Al Gore.

Gore nhận được số phiếu phổ thông cao hơn, khoảng 50,9 triệu phiếu so với 50,4 triệu phiếu của Bush. Gore cũng được dự báo sẽ giành số phiếu đại cử tri cao hơn vì các cuộc thăm dò trước bầu cử cho thấy ông dẫn điểm trước Bush tại bang chiến trường Florida, nơi có 25 phiếu đại cử tri.

Vào đêm bầu cử 7/11/2000, dựa vào kết quả ban đầu và các cuộc khảo sát hậu bỏ phiếu, các hãng truyền thông thông báo Gore thắng ở bang Florida. Nhưng sau khi các điểm bỏ phiếu ở Florida chính thức đóng cửa, các hãng truyền thông lại tuyên bố chiến thắng thuộc về Bush để rồi sau đó rút lại tuyên bố này và nói rằng chưa thể phân định kết quả do chênh lệch phiếu bầu giữa hai ứng viên quá sít sao. 

Ngay trong đêm, Gore đã điện thoại cho đối thủ thừa nhận thất bại nhưng khi biết kết quả ở Florida vẫn chưa rõ ràng, ông rút lại lời. Kết quả sau đó cho thấy Bush thắng ở Florida với 1.784 phiếu cao hơn so với số phiếu Gore nhận được. Theo luật định, mức chênh lệch sít sao như vậy buộc phải kiểm phiếu lại.

Ngày 26/11/2000, Ủy ban kiểm phiếu bang Florida thông báo kết quả kiểm phiếu lại cho thấy Bush dẫn trước Gore chỉ 537 phiếu phổ thông ở Florida. Gore đã phản đối kết quả này và kiện đòi yêu cầu kiểm lại bằng tay ít nhất 70.000 phiếu bầu trước đó được kiểm bằng máy.

Tòa án bang Florida đưa ra phán quyết nhất trí yêu cầu của Gore nhưng đến ngày 12/12/2000, tòa án tối cao Mỹ đã bác bỏ phán quyết này, nhờ vậy, Bush nhận được 25 phiếu đại cử tri ở Florida, nâng tổng số phiếu đại cử tri của ông lên 271 phiếu so với 266 phiếu của Gore (cần ít nhất 270 đại cử tri để chiến thắng).

Phát biểu trên truyền hình ngày 13/12/2000, Gore chính thức chấp nhận thua cuộc. "Dù không đồng tình quyết định của tòa án tối cao Mỹ, tôi vẫn chấp nhận", ông nói.

Vì sao Mỹ chọn đại cử tri để trực tiếp bầu tổng thống Mỹ?

 


VnExpress