Vẫn thiếu niềm tin vào sản phẩm, thiết bị sản xuất trong nước

Tại Cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với các nhà khoa học trẻ tiêu biểu năm 2015, đa số các nhà khoa học trẻ cho rằng, nền khoa học và công nghệ Việt Nam đã có những bước tiến nhất định, tuy nhiên, không ít hàng Việt đang bị các cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước được giao trách nhiệm đấu thầu
Vẫn thiếu niềm tin vào sản phẩm, thiết bị sản xuất trong nước

Tại Cuộc gặp mặt của Thủ tướng Chính phủ với các nhà khoa học trẻ tiêu biểu năm 2015, đa số các nhà khoa học trẻ cho rằng, nền khoa học và công nghệ Việt Nam đã có những bước tiến nhất định, tuy nhiên, không ít hàng Việt đang bị các cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước được giao trách nhiệm đấu thầu mua sắm vẫn phân biệt đối xử, dù chất lượng những sản phẩm này không thua kém gì so với hàng ngoại.

 

Thiếu niềm tin vào hàng Việt

TS. Đặng Thị Phương Nhung thuộc Viện Khoa học và Kỹ thuật hạt nhân cho rằng: “Hiện nay, nhiều cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách được giao trách nhiệm đấu thầu mua sắm công vẫn có tâm lý lựa chọn những thiết bị, máy móc ngoại nhập đắt đỏ, thay vì mua những thiết bị, máy móc trong nước đã sản xuất được có tính năng tương đương, đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật và tiết kiệm chi phí đáng kể cho ngân sách nhà nước”. Theo TS. Đặng Thị Phương Nhung, thực trạng này không những gây lãng phí nguồn lực của Nhà nước, mà còn khiến các doanh nghiệp và các nhà khoa học không có động lực để đầu tư, nghiên cứu và ứng dụng sản phẩm công nghệ có chất lượng cao. “Để hạn chế tình trạng này, Nhà nước cần có quy định về việc phổ biến rộng rãi nhu cầu mua sắm của các cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách và cơ chế lấy ý kiến đóng góp của các nhà khoa học một cách rộng rãi, tích cực hơn”, TS. Đặng Thị Phương Nhung nêu giải pháp.

 

Chia sẻ câu chuyện hàng trong nước bị phân biệt đối xử ngay trên “sân nhà”, ThS. Lê Văn Huyên, Công ty Thông tin di động Mobifone cho rằng, các cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách đang thiếu niềm tin dành cho hàng Việt. Họ chưa thực sự tin tưởng vào đội ngũ làm khoa học công nghệ, cũng như các sản phẩm, thiết bị khoa học công nghệ trong nước đã sản xuất được. Dẫn chứng một trường hợp cụ thể, ThS. Lê Văn Huyên cho biết, trước đây có một doanh nghiệp phần mềm trong nước đã sáng tạo và sản xuất thành công một sản phẩm phần mềm mới có những tính năng ưu việt với giá thành vừa phải, nhưng không chỉ Công ty Thông tin di động Mobifone mà các doanh nghiệp nhà nước khác cũng đều từ chối sử dụng sản phẩm này, quyết định mua một sản phẩm tương tự của nước ngoài, mặc dù tính năng của sản phẩm đó không có gì khác biệt, thậm chí còn ra đời sau sản phẩm phần mềm của Việt Nam. Nguyên nhân của thực trạng này, ThS. Lê Văn Huyên cho rằng: “Đó là do thiếu sự tin tưởng với hàng Việt, không dám chấp nhận rủi ro để thử nghiệm và vì tâm lý sính ngoại. Rào cản đó khiến các nhà khoa học cũng như doanh nghiệp công nghệ trong nước không dám đầu tư “chất xám” cũng như tiền của cho những sản phẩm công nghệ mới”.

 

Cần có chiến lược đưa sản phẩm trong nước vươn ra khu vực và thế giới 

Theo TS. Nguyễn Bá Hải, Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm của Nhật Bản, xây dựng rào cản kỹ thuật để hạn chế nhập khẩu những hàng hóa trong nước đã sản xuất được, tiếp tục khuyến khích sự phát triển của doanh nghiệp và hàng hóa trong nước.

 

“Nền khoa học công nghệ của Việt Nam đã có những bước tiến nhất định. Đã đến lúc không nên bó hẹp, giới hạn phục vụ trong phạm vi nội địa, mà cần phải có chiến lược phát triển vươn ra khu vực và thế giới”, TS. Nguyễn Bá Hải bày tỏ quan điểm. 

 

Đồng quan điểm này, nhà khoa học trẻ Nguyễn Đình Nam, một lãnh đạo doanh nghiệp công nghệ khởi nghiệp đã từng đoạt giải Nhất của Chính phủ Phần Lan trong lĩnh vực khoa học công nghệ, đánh giá: “Việt Nam là quốc gia có đủ tiềm năng phát triển mạng lưới Internet toàn cầu, thậm chí đã vượt qua cả Australia. Hiện nay, Việt Nam đã có Trung tâm Internet – VNNIC, chỉ cần thay đổi cơ chế, chính sách hoạt động vượt ra khỏi cơ chế tự phục vụ nội địa, Việt Nam sẽ trở thành trung tâm Internet cấp khu vực, làm điểm trung chuyển cho các quốc gia trong khu vực. Máy chủ đặt tại Việt Nam sẽ thu hút các công ty đa quốc gia đến đầu tư”.

 

Để khuyến khích đầu tư phát triển khoa học và công nghệ, ThS. Lê Văn Huyên đề nghị: “Nhà nước cần có chính sách cho phép thử nghiệm, chấp nhận rủi ro thì sản phẩm khoa học công nghệ của Việt Nam mới phát triển được, có bán được sản phẩm thì doanh nghiệp mới mạnh dạn đầu tư”. 

 

Nhà khoa học trẻ Nguyễn Đình Nam đề xuất thành lập Quỹ Đầu tư dành riêng cho các cá nhân nhà khoa học vay không cần thế chấp tài sản, mà có thể căn cứ vào các giải thưởng có uy tín đã được công nhận để đẩy nhanh ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất kinh doanh, thương mại hóa kết quả công trình nghiên cứu khoa học. Trong số 10 công trình thì chỉ cần 1 công trình thương mại hóa thành công thì đã đạt mục tiêu đề ra. 

 

Chia sẻ quan điểm này, TS. Nguyễn Bá Hải nhận định, khoa học công nghệ muốn phát triển thì phải hướng đến thị trường, nâng cao tính thương mại, đáp ứng nhu cầu của thị trường… “Làm khoa học bao giờ cũng gặp khó khăn, nhưng điều quan trọng hơn tất cả là các nhà khoa học phải biết tự vươn lên, vượt qua mọi khó khăn, mạnh dạn sáng tạo, liên kết với nhau, với các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp để biến khoa học trở thành cơ hội phát triển đất nước”, TS. Nguyễn Bá Hải nhấn mạnh.

Bích Thủy

 

 

 

ngocthanh