Hiệu quả kinh tế của Dự án BOT đường 768 - Đồng Nai chưa cao?

Theo Công ty CP Sonadezi Châu Đức, doanh số thu phí của Dự án Đầu tư đường 768 theo hình thức PPP (hợp đồng BOT) trên địa bàn TP. Biên Hoà và huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai (do Công ty là nhà đầu tư) hiện chỉ đạt khoảng 96,5%
Hiệu quả kinh tế của Dự án BOT đường 768 - Đồng Nai chưa cao?

Theo Công ty CP Sonadezi Châu Đức, doanh số thu phí của Dự án Đầu tư đường 768 theo hình thức PPP (hợp đồng BOT) trên địa bàn TP. Biên Hoà và huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai (do Công ty là nhà đầu tư) hiện chỉ đạt khoảng 96,5% so với mức thu dự kiến trong đề án thu phí của hợp đồng mà Công ty đã ký với Sở Giao thông vận tải (GTVT) Đồng Nai. Điều này cho thấy thực tế hoàn toàn đúng với đánh giá ban đầu về hiệu quả của Dự án là… thấp. 

IMG

Phần lớn các hạng mục xây dựng đường của Dự án Đầu tư đường 768 đã hoàn thành, trong đó tuyến đường Nhà máy Nước Thiện Tân đã vận hành thu phí từ quý IV/2010

 Ảnh: Nhã Chi

Công ty CP Sonadezi Châu Đức cho biết, hiện nay, đa phần  các hạng mục xây dựng đường của Dự án trên đã hoàn thành, trong đó tuyến đường Nhà máy Nước Thiện Tân đã vận hành thu phí từ quý IV/2010; các cầu Rạch Tôm, Rạch Đông, Ông Hường đã thông xe; đoạn từ cầu Rạch Gốc đến đường dẫn vào cầu Thủ Biên dài 15.987,38 m (chiếm 95% tổng chiều dài đường 768) cũng đã được thông xe. 

 

Sau khi UBND tỉnh Đồng Nai cho phép vận hành thu phí tại các trạm số 2a, 2b trên đường Đồng Khởi và trạm 4a trên đường Nhà máy Nước Thiện Tân từ ngày 14/11/2010, các trạm đã và đang hoạt động ổn định. Tính từ tháng 11/2010 đến tháng 7/2015, doanh thu thực tế mà nhà đầu tư thu được là 99.574.859.000 đồng trong khi doanh thu theo phương án tài chính là 103.200.075.757 đồng (phương án tài chính chưa tính doanh thu trạm đường 768 do chưa thu phí). Riêng năm 2014, doanh thu thực tế mà nhà đầu tư đạt được là 27.348.214.000 đồng còn doanh thu theo phương án tài chính là 27.748.181.818 đồng. 

 

Theo ông Bùi Trọng Nam, đại diện Công ty CP Sonadezi Châu Đức, việc đầu tư xây dựng mới, nâng cấp, cải tạo các tuyến đường của Dự án phụ thuộc vào tiến độ thực hiện bồi thường giải phóng mặt bằng (GPMB) và di dời hệ thống hạ tầng kỹ thuật của huyện Vĩnh Cửu và TP. Biên Hoà. 

 

Tình trạng GPMB, di dời hạ tầng kỹ thuật chậm tiến độ như hiện nay có thể làm tăng tổng mức đầu tư; lãi suất vay ngân hàng có thể tăng so với mức lãi suất kỳ vọng khi duyệt dự án và ký hợp đồng BOT… Đặc biệt là việc nguồn thu thực tế thấp hơn đề án thu phí của hợp đồng BOT đã ký với Sở GTVT là những rủi ro lớn mà nhà đầu tư này lo ngại khi thực hiện Dự án.

Bích Khánh

 

ngocthanh