Dự án Giảm nghèo các tỉnh miền núi phía Bắc: Hoàn thành hơn 800 công trình kết cấu hạ tầng

Ngày 4/8 tại Hà Nội, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) cùng Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam (WB) đã tổng kết giai đoạn 2010 - 2015 và khởi động khoản vay bổ sung cho dự án Giảm nghèo các tỉnh miền núi phía Bắc
Dự án Giảm nghèo các tỉnh miền núi phía Bắc:  Hoàn thành hơn 800 công trình kết cấu hạ tầng

Ngày 4/8 tại Hà Nội, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) cùng Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam (WB) đã tổng kết giai đoạn 2010 - 2015 và khởi động khoản vay bổ sung cho dự án Giảm nghèo các tỉnh miền núi phía Bắc giai đoạn 2 do WB tài trợ. Dự án được thực hiện tại 6 tỉnh gồm Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, Yên Bái và Lào Cai.

 

Theo Thứ trưởng Bộ KH&ĐT Nguyễn Văn Hiếu, mục tiêu bao trùm nhất của Dự án là góp phần giảm nghèo và đẩy mạnh phát triển nông thôn ở khu vực miền núi phía Bắc, nơi được đánh giá là khu vực nghèo nhất ở Việt Nam. Dự án được thực hiện với cách tiếp cận chủ đạo và xuyên suốt các hoạt động là “lấy cộng đồng làm định hướng” (CDD). Dự án được thiết kế với các hợp phần và các can thiệp ở nhiều khía cạnh và lĩnh vực khác nhau, cùng với những nỗ lực từ các chương trình, chính sách hỗ trợ của Chính phủ, hướng tới mục tiêu giảm nghèo nhanh và bền vững ở địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa và vùng khó khăn nhất trong cả nước.

IMG

Đến tháng 6/2015, toàn dự án Giảm nghèo các tỉnh miền núi phía Bắc giai đoạn 2 đã thực hiện trên 5.700 tiểu dự án kết cấu hạ tầng quy mô thôn bản do xã làm chủ đầu tư, phục vụ gần 353.000 lượt hộ hưởng lợi

Ảnh: Quang Vinh

Theo Ban điều phối dự án Trung ương, Dự án sử dụng nguồn vốn vay của WB là 150 triệu USD và vốn đối ứng của Chính phủ Việt Nam (ngân sách trung ương và địa phương). Những lĩnh vực can thiệp chính của Dự án bao gồm cải thiện tiếp cận kết cấu hạ tầng, đặc biệt là hạ tầng phục vụ sản xuất, tiếp cận các dịch vụ sản xuất, phát triển sinh kế bền vững cho người dân đóng góp vào việc tạo ổn định thu nhập. Dự án được thực hiện trên địa bàn của 232 xã thuộc 27 huyện của 6 tỉnh miền núi phía Bắc, trong đó có 16 huyện nằm trong Chương trình 30A và 30B của Chính phủ. Tại thời điểm bắt đầu triển khai, vùng dự án có 2.366 thôn, bản, hơn 133.000 hộ, trong đó hơn 67.000 hộ nghèo (theo số liệu thống kê năm 2008). Tỷ lệ hộ nghèo bình quân toàn vùng dự án là 50%, đặc biệt có những xã tỷ lệ hộ nghèo trên 80%. Trên 90% đối tượng hưởng lợi của Dự án là người dân tộc thiểu số.

 

Sau 5 năm triển khai, Dự án đã đầu tư, bàn giao đưa vào sử dụng hơn 800 công trình kết cấu hạ tầng quy mô cấp xã (do Ban quản lý dự án các huyện là chủ đầu tư) với tổng giá trị ngân sách được duyệt là 1.775 tỷ đồng, bao gồm: 261 công trình đường giao thông nông thôn với hơn 475km, 298 công trình thủy lợi cung cấp nước tưới cho 6.200 ha đất sản xuất, 177 công trình nước sinh hoạt nông thôn cho 13.200 hộ hưởng lợi. 

 

Theo Ban điều phối dự án Trung ương, nhìn chung đầu tư về kết cấu hạ tầng trong Dự án có những tác động tích cực tới các địa phương và cộng đồng. Điều này được thể hiện qua kết quả khảo sát do tư vấn độc lập thực hiện, theo đó, 91% số người được khảo sát khẳng định thời gian đến khu sản xuất đã giảm hơn so với trước; 67% số người được khảo sát cho rằng có sự gia tăng về số lượng tiểu thương đến mua hàng tại địa bàn; 77% ý kiến cho rằng nhờ có công trình giao thông mà chi phí sản xuất đã giảm đi so với trước đây; 40% số người được hỏi cho rằng nhờ có công trình thủy lợi mà sản lượng nông nghiệp của họ đã tăng lên gần 20% so với trước đây; 88% ý kiến cho rằng công trình nước sinh hoạt đã giúp cải thiện chất lượng nước của gia đình, tình hình mắc các loại bệnh đường ruột có liên quan đến việc sử dụng nước cũng giảm đi so với trước đây.

 

Đến cuối giai đoạn 2010 - 2015, tất cả 232 xã đã đủ năng lực và thực hiện làm chủ đầu tư các hoạt động của Dự án ở xã. Với gần 22.000 tiểu dự án (TDA) do xã làm chủ đầu tư đã hoàn thành, bình quân mỗi xã được trao quyền thực hiện 95 TDA với tổng số vốn hơn 5 tỷ đồng/xã. Tất cả các thôn bản trong vùng dự án đều được tham gia hoạt động của Dự án với mức trung bình 9 TDA/thôn bản. Tổng số hộ hưởng lợi các hoạt động do xã làm chủ đầu tư là hơn 500.000 lượt hộ, trong đó 138.000 lượt hộ được trực tiếp hưởng lợi từ các tiểu hợp phần sinh kế.

 

Đến tháng 6/2015, toàn Dự án đã thực hiện trên 5.700 TDA kết cấu hạ tầng quy mô thôn bản do xã làm chủ đầu tư, phục vụ gần 353.000 lượt hộ hưởng lợi, tương đương khoảng 1,5 triệu lượt người. Số hộ gia đình hưởng lợi bình quân dao động từ 30 - 90 hộ/1 TDA. Mức đầu tư bình quân chung cho 1 TDA là 97 triệu đồng. Số lượng các TDA chính là 2.651 TDA đường giao thông, 818 TDA kênh mương thủy lợi, 665 TDA nước sinh hoạt, 148 TDA nhà sinh hoạt cộng đồng.

Các TDA hạ tầng quy mô nhỏ này đã góp phần đáng kể vào việc củng cố hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội và sản xuất trên địa bàn các xã nghèo. Các TDA hạ tầng này chủ yếu được các cộng đồng thi công với sự hỗ trợ kỹ thuật từ xã và đội ngũ cán bộ dự án. Theo tính toán kinh tế, khi thực hiện phương thức cộng đồng thi công có thể giảm chi phí đầu tư khoảng 20% - 30%. Mặc dù còn những bất cập và sai sót nhất định đối với các hoạt động do xã làm chủ đầu tư (như thiết kế còn có những sai sót phải điều chỉnh, hồ sơ chưa thực sự đầy đủ, thi công chưa đẹp về mỹ quan,…), nhưng việc quyết định đầu tư công trình đều xuất phát từ nhu cầu của nhân dân, người dân được trực tiếp tham gia thi công và có thu nhập nên tỷ lệ người dân hài lòng và cho rằng các công trình đáp ứng nhu cầu ưu tiên là khá cao như đã nêu ở trên. Bên cạnh đó, các xã cũng đã trực tiếp quản lý và thực hiện hơn 4.500 TDA vận hành, bảo trì giúp tăng tính bền vững vào tuổi thọ các công trình xây lắp trên địa bàn.

 

Theo bà Victoria Kwakwa – Giám đốc quốc gia WB tại Việt Nam, khoản vay bổ sung của Dự án là 100 triệu USD. Đây là khoản vay cuối cùng mà WB cấp cho Dự án này. Sau đó WB sẽ cùng đồng hành với nhiều dự án khác trong tương lai.

Ngô Trần

ngocthanh