Đơn giản hóa thủ tục giải thể doanh nghiệp

Bên cạnh việc tạo mọi điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp gia nhập vào thị trường, việc đơn giản hóa các thủ tục cho doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường cũng là một trong những mối quan tâm lớn của doanh nghiệp và người dân hiện nay.
Đơn giản hóa thủ tục giải thể doanh nghiệp

Bên cạnh việc tạo mọi điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp gia nhập vào thị trường, việc đơn giản hóa các thủ tục cho doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường cũng là một trong những mối quan tâm lớn của doanh nghiệp và người dân hiện nay. Với tư duy đổi mới, cải cách thủ tục hành chính mạnh mẽ, Nghị định số 78/2015/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp vừa được Chính phủ ban hành được kỳ vọng tạo thuận lợi hơn cho doanh nghiệp trong việc thực hiện thủ tục giải thể.

 

Khác với Luật Doanh nghiệp năm 2005, Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) được Quốc hội ban hành năm 2014 đã có những quy định mới về hồ sơ, trình tự, thủ tục giải thể doanh nghiệp theo hướng đơn giản hóa thủ tục hành chính. Theo đó, thời hạn tối đa để cơ quan đăng ký doanh nghiệp thực hiện thủ tục xóa tên doanh nghiệp là 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ giải thể. Đồng thời, doanh nghiệp sẽ được tự động giải thể sau 180 ngày, kể từ ngày doanh nghiệp ra quyết định giải thể. Điều này đòi hỏi các cơ quan, đặc biệt là cơ quan thuế, phải khẩn trương thực hiện thủ tục quyết toán thuế cho doanh nghiệp.

 

Do vậy, để nâng cao cơ chế phối hợp trong công tác quản lý nhà nước giữa cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp trong việc giải thể doanh nghiệp, Nghị định số 78/2015/NĐ-CP đã bổ sung thêm một số quy định chi tiết. Theo đó, sau khi nhận được hồ sơ giải thể của doanh nghiệp, Phòng Đăng ký kinh doanh gửi thông tin về việc doanh nghiệp đăng ký giải thể cho cơ quan thuế. Trong thời hạn 2 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông tin của Phòng Đăng ký kinh doanh, cơ quan thuế gửi ý kiến về việc giải thể doanh nghiệp đến cơ quan đăng ký kinh doanh. 

 

Với việc quy định rõ hồ sơ, trình tự, thủ tục giải thể doanh nghiệp trong Luật Doanh nghiệp năm 2014 cũng như cơ chế phối hợp liên thông giữa các cơ quan chức năng tại Nghị định số 78/2015/NĐ-CP, cơ chế phối hợp trong công tác quản lý nhà nước giữa cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế được kỳ vọng sẽ đạt hiệu quả cao hơn nữa, qua đó tạo thuận lợi hơn cho doanh nghiệp trong việc thực hiện thủ tục giải thể.

Theo số liệu thống kê của Cục Quản lý đăng ký kinh doanh thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tổng số doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động trong năm 2011, 2012, 2013 và 2014 lần lượt là 53.900, 54.200, 60.700 và 67.800 doanh nghiệp.

Cũng theo Cục Quản lý đăng ký kinh doanh, liên quan đến hồ sơ, trình tự, thủ tục tạm ngừng kinh doanh của doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện, trước đây, Nghị định số 43/2010/NĐ-CP quy định, khi đăng ký tạm ngừng kinh doanh, doanh nghiệp phải gửi thông báo đến Phòng Đăng ký kinh doanh; kèm theo thông báo phải có Quyết định và Biên bản họp của Hội đồng thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên, của chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên, của HĐQT công ty cổ phần, của các thành viên hợp danh công ty hợp danh. Tuy nhiên, Nghị định số 78/2015/NĐ-CP đã sửa đổi theo hướng, đối với trường hợp là công ty cổ phần, các văn bản như Quyết định và Biên bản họp của Đại hội đồng cổ đông về việc tạm ngừng kinh doanh của doanh nghiệp sẽ được thay thế bằng Quyết định và Biên bản họp của HĐQT công ty.

 

Theo đánh giá của các chuyên gia, việc quy định như vậy vừa tiết kiệm chi phí và thời gian cho doanh nghiệp, vừa bảo đảm kiểm soát của tập thể HĐQT, không để cá nhân người đại diện pháp luật lạm quyền làm ảnh hưởng đến công ty và quyền lợi của người lao động. 

Bích Thủy - Hoàng Thanh Tuấn

ngocthanh