Đổi mới để tạo đột phá và sức cạnh tranh cho nền kinh tế

Tại Hội thảo “Cải cách thể chế kinh tế Việt Nam để hội nhập và phát triển giai đoạn 2015 - 2035”, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh nhận định, sau gần 30 năm thực hiện cải cách (từ năm 1986), Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu lớn
Đổi mới để tạo đột phá  và sức cạnh tranh cho nền kinh tế

Tại Hội thảo “Cải cách thể chế kinh tế Việt Nam để hội nhập và phát triển giai đoạn 2015 - 2035”, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh nhận định, sau gần 30 năm thực hiện cải cách (từ năm 1986), Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu lớn trong phát triển kinh tế - xã hội, song thực trạng kinh tế Việt Nam thời gian gần đây cho thấy, những dư địa để phát triển nhờ cải cách những năm qua đã cạn dần. Đã đến lúc Việt Nam cần tiếp tục đổi mới để tạo ra những đột phá, sức cạnh tranh mới cho nền kinh tế.

IMG

Theo các chuyên gia kinh tế, trọng tâm của cải cách nằm ở phía các doanh nghiệp nhà nước, vì cải cách ở phía Nhà nước là điều kiện cần, không thể thiếu cải cách ở phía thị trường

 Ảnh: Nhã Chi

Quy mô nền kinh tế của nước ta còn nhỏ

Trong Báo cáo nghiên cứu “Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam và nguy cơ tụt hậu so với các nước trong khu vực”, Tổng cục Thống kê thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư nhận định, những năm gần đây, nền kinh tế của Việt Nam cơ bản duy trì được tốc độ tăng trưởng khá. Từ một quốc gia có GDP năm 1990 chỉ đạt khoảng 6,4 tỷ USD, xếp vị trí thứ 90 trên thế giới, sau gần 25 năm phát triển, quy mô kinh tế của Việt Nam đã cải thiện đáng kể với GDP năm 2014 đạt 186,2 tỷ USD, xếp vị trí thứ 55 thế giới. 

 

Tuy nhiên, theo Báo cáo, mặc dù quy mô kinh tế không ngừng được mở rộng, khoảng cách về GDP của Việt Nam so với với các nước trong khu vực ASEAN được thu hẹp dần, song so với một số nước trong khu vực này thì quy mô nền kinh tế nước ta vẫn còn nhỏ. “Tại thời điểm năm 2014, GDP của Indonesia gấp 4,8 lần GDP của Việt Nam; Thái Lan gấp 2 lần; Malaysia gấp 1,8 lần, Singapore gấp 1,7 lần và Philippines gấp 1,5 lần”, Báo cáo dẫn chứng và nhận định: “Dù đã trở thành quốc gia có thu nhập trung bình, nhưng khoảng cách về GDP bình quân đầu người của Việt Nam so với các nước trong khu vực còn lớn và có nguy cơ bị nới rộng”. 

 

Báo cáo của Tổng cục Thống kê cũng chỉ ra: Nếu tính cùng xuất phát điểm về phát triển kinh tế, Hàn Quốc mất 16 năm để vươn lên nước có thu nhập trung bình thấp. Cũng với mục tiêu này, Thái Lan mất 27 năm, Indonesia mất 34 năm. Đặc biệt, với khởi điểm phát triển muộn hơn vào năm 1970, Malaysia chỉ mất 6 năm để đạt mục tiêu trở thành nước có thu nhập trung bình thấp. 

 

So với các nước nêu trên, Việt Nam bắt đầu thực hiện đổi mới, phát triển kinh tế muộn hơn, vào đầu thập niên 90 của thế kỷ XX với GDP bình quân đầu người đạt khoảng 100 USD/năm, chỉ tương ứng với mức GDP bình quân đầu người của Thái Lan năm 1960, của Hàn Quốc năm 1962 và của Indonesia năm 1972. Sau 24 năm, GDP bình quân đầu người của Việt Nam năm 2014 đã gấp gần 21 lần năm 1990, trong khi cũng với thời gian này, GDP bình quân đầu người của Thái Lan chỉ tăng lên gấp 7,9 lần; Indonesia gấp 10,8 lần. 

 

Ghi nhận tốc độ tăng GDP bình quân đầu người của Việt Nam là rất ấn tượng, song Báo cáo của Tổng cục Thống kê cũng chỉ rõ: “Xét trên giác độ GDP bình quân đầu người, Việt Nam vẫn đang đi sau Hàn Quốc khoảng 30 - 35 năm, sau Malaysia khoảng 25 năm, sau Thái Lan khoảng 20 năm, sau Indonesia và Philippines khoảng 5 - 7 năm”.

 

Theo TS. Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM), có sự khác biệt trong tăng trưởng GDP của Việt Nam trong giai đoạn trước và sau năm 2008. Theo đó, trước năm 2008, tăng trưởng GDP bình quân là 7,8%/năm nhưng từ năm 2008 đến nay chỉ là 5,8%/năm, chênh lệch khoảng 2 điểm phần trăm. Nếu tăng trưởng 5% đến năm 2023, GDP của Việt Nam chỉ bằng 70% của Thái Lan hiện nay; còn nếu tăng 7% sẽ bằng 98% của Thái Lan hiện nay. Như vậy, nguy cơ tụt hậu là rất lớn. “Nếu tăng trưởng trên 7% thì mới đuổi kịp được, còn 5% thì chắc chắn tụt hậu”, TS. Nguyễn Đình Cung nhận định.

 

Cải cách thể chế kinh tế cần phải thay đổi tư duy

Theo TS. Nguyễn Đình Cung, trọng tâm của cải cách lần này nằm ở phía các doanh nghiệp nhà nước vì cải cách ở phía Nhà nước là điều kiện cần, không thể thiếu cho cải cách ở phía thị trường. Khi đó, thị trường mới đầy đủ, cạnh tranh và hướng tới hoàn hảo được.

 

TS. Nguyễn Đình Cung cũng cho rằng, một số cải cách đang thực hiện cần phải được tiếp tục và triển khai mạnh mẽ hơn như: cơ cấu lại ngân sách, nhất là chi ngân sách và nâng cao hiệu quả các khoản chi ngân sách, dành tỷ lệ cao hơn, số vốn nhiều hơn cho đầu tư; thu hẹp và giảm mạnh biên chế khu vực nhà nước để giảm gánh nặng chi ngân sách; thu hẹp chức năng quản lý của Nhà nước, tập trung khắc phục những khuyết điểm của thị trường; tuyệt đối không bố trí vốn đầu tư của Nhà nước cho các dự án, công trình chưa cần thiết hoặc có thể huy động được các nguồn vốn khác…

 

Bên cạnh đó, để cải cách thể chế kinh tế, TS. Nguyễn Sĩ Dũng, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội cho rằng, cần phải thay đổi tư duy, phát triển quan điểm căn bản mới thay đổi được thể chế, bởi tư duy quyết định thể chế. 

 

Đồng thuận quan điểm trên về việc đổi mới tư duy, TS. Võ Đại Lược, Trung tâm Nghiên cứu châu Á - Thái Bình Dương phát biểu: “Chúng ta phải nghĩ cùng suy nghĩ của thế giới. Thế giới nghiên cứu gì, tư duy gì thì chúng ta cũng phải nghiên cứu và tư duy như thế, bởi tụt hậu về tư duy là nguy hiểm nhất. Khi tư duy chúng ta tụt hậu thì nền kinh tế cũng sẽ không bứt phá lên được và sẽ tiếp tục tụt hậu hơn nữa”, TS. Võ Đại Lược nhấn mạnh.

Hải Bình

ngocthanh