Để đạt hiệu quả cao từ nhượng quyền khai thác hạ tầng giao thông

Theo các chuyên gia kinh tế, trong bối cảnh hiện nay, việc áp dụng nhượng quyền khai thác các công trình hạ tầng giao thông được coi là giải pháp cần thiết
Để đạt hiệu quả cao từ nhượng quyền khai thác hạ tầng giao thông

Theo các chuyên gia kinh tế, trong bối cảnh hiện nay, việc áp dụng nhượng quyền khai thác các công trình hạ tầng giao thông được coi là giải pháp cần thiết không chỉ giúp giảm bớt áp lực ngân sách đầu tư cho phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng, mà còn tạo nên một cơ chế truyền dẫn hiệu quả để khơi thông nguồn vốn tín dụng và trở thành một kênh dẫn vốn từ các ngân hàng đến nhà đầu tư. 

IMG

Nhu cầu vốn đầu tư phát triển kinh tế nói chung và phát triển kết cấu hạ tầng tại Việt Nam là rất lớn và sẽ tiếp tục tăng trong thời gian tới

 Ảnh: Lê Tiên

Nhu cầu vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng tại Việt Nam là rất lớn và nhu cầu này sẽ tiếp tục tăng trong thời gian tới. Tuy nhiên, tại Hội thảo “Xã hội hóa hoạt động quản lý, khai thác cảng hàng không, sân bay ở Việt Nam” vừa diễn ra tại Hà Nội, các chuyên gia cũng đặt ra vấn đề rằng: Trong điều kiện nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước (NSNN) cho phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng đang ngày càng eo hẹp bởi những ràng buộc về tỷ lệ an toàn nợ công, nguồn vốn ODA giảm dần, Việt Nam cần huy động nguồn vốn từ đâu để đầu tư cho kết cấu hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội? Những năm qua, nguồn vốn ODA luôn đóng vai trò chủ lực trong cơ cấu vốn đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng, đặc biệt là hạ tầng giao thông. Theo TS. Trương Văn Phước, Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia, cơ cấu tài chính của nguồn vốn đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng trong giai đoạn vừa qua cho thấy, nguồn vốn ODA chiếm tỷ lệ cao nhất với 37%; vốn NSNN 11%; trái phiếu chính phủ (TPCP) 13%; đầu tư tư nhân 21%; thu phí sử dụng dịch vụ là 14%; ngân hàng thương mại 3% và đầu tư từ cộng đồng chỉ chiếm khoảng 1%. 

 

Để khơi thông dòng vốn đầu tư vào hệ thống kết cấu hạ tầng, TS. Trương Văn Phước cho biết, từ cuối năm 2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 71/2010/QĐ-TTg ngày 9/11/2010 về việc ban hành quy chế thí điểm đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP). Sau 4 năm thực hiện thí điểm, ngày 14/02/2015, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 15/2015/NĐ-CP về đầu tư theo hình thức PPP. Đây là cơ sở pháp lý hoàn chỉnh cho việc thực hiện các dự án đầu tư theo hình thức PPP, trong đó có hình thức nhượng quyền khai thác các công trình, dự án.

IMG

Thời hạn chuyển nhượng là yếu tố quan trọng quyết định đến sự thành công của các hợp đồng chuyển nhượng quyền khai thác hạ tầng giao thông

 Ảnh: LTT

Theo TS. Trương Văn Phước, trong nhượng quyền khai thác, yếu tố thời hạn chuyển nhượng là yếu tố quan trọng quyết định đến việc có thực hiện chuyển nhượng thành công hay không một công trình, dự án. Dẫn chứng từ đề xuất áp dụng hình thức nhượng quyền khai thác cảng hàng không của các cơ quan quản lý, ông Trương Văn Phước cho rằng, ngoài yếu tố lợi ích tài chính và các yếu tố khác như kỳ vọng vào việc nâng cao chất lượng dịch vụ cảng hàng không, phục vụ cộng đồng…, Nhà nước cần phải tính thêm yếu tố thời hạn chuyển nhượng, bởi đây là yếu tố quan trọng trong việc cân đối giữa tạo cơ chế thu hút đầu tư và đảm bảo khả năng sinh lời của tài sản thuộc sở hữu nhà nước. “Nếu thời gian chuyển nhượng ngắn sẽ khó hấp dẫn nhà đầu tư, hoặc nếu chuyển nhượng hoàn thành, nhà đầu tư cũng sẽ hạn chế cung cấp tài chính để đảm bảo khả năng thu hồi vốn; ngược lại, nếu thời gian chuyển nhượng quá dài sẽ gây thiệt hại cho khả năng sinh lời của tài sản quốc gia chưa được định giá phù hợp” – TS. Trương Văn Phước lưu ý.

 

Nhận định nhượng quyền khai thác các công trình, dự án của Nhà nước cho nhà đầu tư tư nhân là cần thiết trong bối cảnh giảm bớt áp lực ngân sách, TS. Trương Văn Phước phân tích, nếu cơ quan quản lý tài sản nhà nước trực tiếp đi vay vốn tín dụng để đầu tư cho các dự án công sẽ phải chịu rủi ro tài chính không nhỏ khi việc khai thác không hiệu quả. Nhưng nếu cơ quan quản lý tài sản nhà nước nhượng quyền khai thác cho các nhà đầu tư, áp lực tài chính sẽ giảm rất nhiều, trong khi đó Nhà nước lại có thêm vốn từ việc nhượng quyền khai thác thương mại để đầu tư, tái đầu tư vào những dự án khác. Đối với nhà đầu tư, để được nhận nhượng quyền khai thác các dự án, công trình công họ phải vay vốn ngân hàng để mua quyền khai thác. Với đồng vốn vay, nhà đầu tư bắt buộc phải đưa ra kế hoạch kinh doanh hiệu quả hơn để sớm thu hồi vốn. Từ phân tích này, TS. Trương Văn Phước nhận định, nhượng quyền khai thác sẽ tạo nên một cơ chế truyền dẫn hiệu quả để khơi thông nguồn vốn tín dụng và trở thành một kênh dẫn vốn từ các ngân hàng đến nhà đầu tư.

Bích Thảo

ngocthanh