Có tới gần 19.300 quy hoạch các loại được lập cho thời kỳ 2011 - 2020

Trên cơ sở các quy định về quy hoạch hiện hành, các cấp, các ngành tiến hành lập các quy hoạch theo quy định để phục vụ cho nhu cầu quản lý, điều hành phát triển kinh tế - xã hội. Theo thống kê của Ban soạn thảo dự án Luật Quy hoạch,
Có tới gần 19.300 quy hoạch các loại được lập cho thời kỳ 2011 - 2020

Trên cơ sở các quy định về quy hoạch hiện hành, các cấp, các ngành tiến hành lập các quy hoạch theo quy định để phục vụ cho nhu cầu quản lý, điều hành phát triển kinh tế - xã hội. Theo thống kê của Ban soạn thảo dự án Luật Quy hoạch, có tới gần 19.300 quy hoạch các loại được lập cho thời kỳ quy hoạch 2011 - 2020.

IMG

Theo đó, hệ thống quy hoạch ở Việt Nam hiện hành được chia thành 4 nhóm chính, bao gồm: Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội (QHTT PTKTXH); Quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, sản phẩm chủ yếu; Quy hoạch xây dựng (bao gồm cả quy hoạch đô thị); Quy hoạch sử dụng đất đai, tài nguyên, khoáng sản, môi trường.

 

Theo quy định hiện hành, Nhóm 1: QHTT PTKTXH thực hiện theo Nghị định số 92/2006/NĐ-CP ngày 7/9/2006 và Nghị định số 04/2008/NĐ-CP ngày 11/1/2008 của Chính phủ; được lập cho cấp vùng, lãnh thổ đặc biệt, cấp tỉnh, cấp huyện và do Bộ Kế hoạch và Đầu tư là đầu mối quản lý nhà nước. Theo thống kê của Ban soạn thảo, hiện cả nước có 792 QHTT PTKTXH, trong đó 21 quy hoạch cấp vùng, lãnh thổ đặc biệt; 3 quy hoạch cấp tỉnh và 708 quy hoạch cấp huyện.

 

IMG

Ông Nguyễn Đức Kiên, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội:

Thực tế cho thấy công tác quy hoạch ở Việt Nam hiện nay còn bộc lộ nhiều hạn chế như chất lượng quy hoạch thấp, quy hoạch không gắn với nhu cầu sử dụng cũng như nguồn lực thực hiện và thiếu tính khả thi, gây lãng phí nguồn lực của đất nước. Các loại quy hoạch thiếu gắn kết, không thống nhất và còn nhiều chồng chéo, mâu thuẫn làm giảm hiệu lực, hiệu quả của quy hoạch. Việc tổ chức lập, thẩm định, phê duyệt và tổ chức thực hiện quy hoạch bị buông lỏng, hệ thống quản lý quy hoạch chưa rõ ràng, thiếu sự phối hợp giữa các bộ ngành với nhau và giữa các bộ, ngành với các địa phương; còn xảy ra tình trạng cục bộ ngành, tính cát cứ địa phương và tư duy nhiệm kỳ.

IMG

Ông Đặng Huy Đông, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư: 

Việc đổi mới toàn diện công tác quy hoạch đang là nhu cầu cấp thiết hiện nay; được đặt trong bối cảnh công tác quy hoạch còn rất nhiều bất cập, quy hoạch có nhiều mâu thuẫn, chồng chéo, kém khả thi, quy hoạch thiếu tính liên kết hệ thống và chưa mang lại hiệu quả thiết thực cho các ngành, cũng như địa phương, từ đó làm khó khăn trong việc điều hành phát triển kinh tế - xã hội và không những gây lãng phí lớn nguồn lực đất nước, mà còn cản trở việc đầu tư, sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và người dân.

 

 

Nhóm 2: “Quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, sản phẩm chủ yếu” thực hiện theo Nghị định số 92/2006/NĐ-CP và Nghị định số 04/2008/NĐ-CP và 61 văn bản luật, pháp lệnh cùng 58 nghị định liên quan; được lập ở cấp quốc gia, cấp vùng, cấp tỉnh và do các bộ quản lý ngành là đầu mối quản lý nhà nước. Cả nước hiện có 268 quy hoạch thuộc nhóm này được lập ở cấp quốc gia, 22 quy hoạch cấp vùng và 3081 quy hoạch cấp tỉnh. 

 

Nhóm 3: “Quy hoạch xây dựng” - bao gồm cả quy hoạch đô thị, do Bộ Xây dựng là đầu mối quản lý nhà nước; được thực hiện theo quy định tại Luật Xây dựng, Luật Quy hoạch đô thị, Luật Thủ đô và 2 Nghị định hướng dẫn Luật Xây dựng, Luật Quy hoạch đô thị. Cả nước hiện có 12.195 quy hoạch được lập thuộc nhóm này. Trong Nhóm 3 này được chia ra 4 phân nhóm, bao gồm: Quy hoạch xây dựng vùng được lập ở cấp vùng liên tỉnh, vùng tỉnh, vùng chức năng đặc thù, vùng liên huyện, vùng huyện, vùng dọc tuyến đường cao tốc, hành lang kinh tế liên tỉnh; Quy hoạch khu chức năng đặc thù được lập cho các khu chức năng như khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu du lịch, khu sinh thái, khu bảo tồn...; Quy hoạch xây dựng nông thôn được lập cho cấp xã và điểm dân cư nông thôn; Quy hoạch đô thị bao gồm: định hướng quy hoạch tổng thể hệ thống đô thị quốc gia, quy hoạch đô thị thành phố trực thuộc Trung ương và quy hoạch hệ thống kỹ thuật đô thị thành phố trực thuộc Trung ương, quy hoạch đô thị thành phố thuộc tỉnh, thị xã, thị trấn, khu đô thị mới.

 

Nhóm 4: “Quy hoạch sử dụng đất đai, tài nguyên, khoáng sản, môi trường” do Bộ Tài nguyên và Môi trường là đầu mối quản lý nhà nước. Trong đó, quy hoạch sử dụng đất đai thực hiện theo Luật Đất đai và các Nghị định hướng dẫn Luật Đất đai; được lập ở cấp quốc gia, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã (Luật Đất đai 2013 đã loại bỏ quy hoạch sử dụng đất cấp xã). Quy hoạch tài nguyên, khoáng sản, môi trường được điều chỉnh bởi 6 luật, pháp lệnh và 10 nghị định liên quan. Các quy hoạch này chủ yếu được lập ở cấp quốc gia và cấp tỉnh (trừ quy hoạch phát triển rừng và quy hoạch tài nguyên nước). Cả nước ta hiện có 2.932 quy hoạch sử dụng đất. 

 

Bày tỏ lo ngại về hệ thống quy hoạch ở Việt Nam, Giáo sư H. Detlef Kammeier, chuyên gia tư vấn về quy hoạch dẫn lời của TS. Nguyễn Quang, Giám đốc Chương trình Định cư con người Liên hợp quốc tại Việt Nam, cho rằng: Ở Việt Nam, tất cả các quy hoạch vẫn được coi là một quá trình phân bổ nguồn lực nhà nước để đáp ứng các mục tiêu cụ thể được đề ra bởi các nghị quyết của Đảng. Quy hoạch phát triển vẫn là một bộ khung cho các chương trình kinh tế - xã hội, dựa vào việc phát triển các dự án đầu tư công. Hệ thống quy hoạch hiện tại không còn phù hợp, không hiệu quả trong vận hành kinh tế thị trường, do các dự án phát triển/đầu tư của khu vực tư nhân vẫn chưa được công nhận là một nhân tố chính.

 

Từ những bất cập nêu trên, Giáo sư H. Detlef Kammeier nêu vấn đề: Làm thế nào để tránh tình trạng chồng chéo ở nội dung quy hoạch mà không còn phù hợp? Làm  thế nào để đồng thời tổ chức các quy định, thủ tục cho việc chuẩn bị, giám sát quy hoạch, để giải quyết những bất đồng về lợi ích? Đây là những vấn đề mà theo Giáo sư H. Detlef Kammeier rất cần phải xem xét khi xây dựng dự án Luật Quy hoạch ở Việt Nam trong bối cảnh hiện nay.

Trần Hoàng Liên

ngocthanh