Chỉ số VFM - Tiêu chí đánh giá một dự án PPP

Có nhiều phương pháp đánh giá kết quả của một dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) như so sánh kết quả đạt được với các mục tiêu đề ra
Chỉ số VFM - Tiêu chí đánh giá một dự án PPP

Có nhiều phương pháp đánh giá kết quả của một dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) như so sánh kết quả đạt được với các mục tiêu đề ra của dự án hay so sánh với các chỉ tiêu sẵn có của ngành. Tuy nhiên, một phương pháp đánh giá thường được sử dụng, đặc biệt tại Canada, đó là đánh giá thông qua chỉ số VFM.

 

Value for money (VFM) là một chỉ số so sánh chi phí cho một dự án dịch vụ công thông qua mô hình PPP với chi phí nếu thực hiện dự án theo phương thức truyền thống (tức là đầu tư công toàn bộ dự án). Đây là phương pháp được Hội đồng Đối tác công tư Canada (CCPPP) khuyến nghị sử dụng trong quá trình lựa chọn/đánh giá một dự án PPP. Hình dưới cho thấy cách tính toán chỉ số VFM.

 

Nhìn vào hình trên, ở cột bên trái, có thể thấy, theo phương thức truyền thống, nhà nước phải gánh toàn bộ các chi phí từ việc xây dựng, vận hành cũng như các chi phí để kiểm soát tất cả các rủi ro liên quan đến dự án. Trong khi đó, ở cột bên phải, nếu PPP là lựa chọn tối ưu cho dự án, thì các chi phí mà đối tác công phải trả sẽ giảm đi. Chi phí giảm có thể do việc sử dụng/quản lý chi phí xây dựng, vận hành của đối tác tư nhân hiệu quả hơn; hay từ việc các rủi ro được kiểm soát với chi phí thấp hơn bởi đối tác tư nhân.

 

VFM có thể được tính theo giá trị tuyệt đối (đơn vị tiền tệ) hoặc giá trị tương đối (% so với chi phí theo phương thức truyền thống). Ví dụ, trong hình trên, áp dụng cho một dự án y tế, với giả định rằng thời hạn thực hiện dự án là như nhau và kết quả/sản phẩm của dự án là như nhau. Nếu thực hiện theo phương thức truyền thống, tổng chi phí tính là 500 triệu USD, trong khi thực hiện theo hình thức PPP, tổng chi phí chỉ còn là 430 triệu USD. Như vậy, VFM sẽ là 70 triệu, tương đương 14%. Hay nói cách khác, triển khai dự án dưới hình thức PPP sẽ giúp đem lại hiệu quả hơn so với cách làm truyền thống là 70 triệu USD, tương đương 14%.

 

VFM là một chỉ số tốt cho việc đánh giá tổng quát sự thành công của một dự án PPP. VFM càng cao thì càng cho thấy hiệu quả về mặt kinh tế - tài chính khi áp dụng mô hình PPP vào dự án. VFM thực tế càng sát với VFM dự tính ban đầu thì càng cho thấy hiệu quả quản lý dự án của khu vực nhà nước và các đối tác tư nhân cũng như chất lượng của các nghiên cứu tiền khả thi. Thông thường, theo đánh giá của CCPPP, một dự án khả thi cần đạt VFM từ 5 - 15%.

 

IMG

Rõ ràng, để xây dựng được một thông số VFM tốt là một vấn đề không đơn giản, cần có sự phối hợp một cách chặt chẽ giữa các bên trong việc tính toán các chi phí, đặc biệt là các chi phí liên quan đến các rủi ro xảy ra trong phương thức truyền thống và phương thức PPP. Việc tính toán thiếu, bỏ qua hoặc tính toán “vượt trội quá mức” các chi phí này cũng làm cho việc đánh giá chỉ số VFM sau này không còn được chính xác. Do đó, bên cạnh chỉ số VFM, cần đánh giá thêm các yếu tố khác khi xem xét kết quả của một dự án PPP.

 

Một số chỉ số khác có thể xem xét khi đánh giá kết quả của các dự án PPP là: tiến độ dự án có đạt được như mục tiêu đề ra hay không, chi phí phát sinh có nằm trong phạm vi tính toán hay không, chất lượng công trình có đảm bảo hoạt động không…

 

Bên cạnh đó, có thể đánh giá kết quả của một dự án PPP thông qua việc so sánh với các mục tiêu đề ra của dự án hay các chỉ tiêu “cứng” của ngành. Ví dụ đối với các dự án PPP trong lĩnh vực y tế, chúng ta có thể xem xét các vấn đề như: dự án có đạt mục tiêu đề ra về số giường bệnh, khả năng khám và chữa bệnh của bệnh viện là bao nhiêu người/năm, thời gian chờ được điều trị/phẫu thuật có giảm không so với chỉ tiêu của ngành (trong trường hợp bệnh viện áp dụng công nghệ mới trong điều trị khám chữa bệnh) hay khả năng cũng cấp các dịch vụ y tế miễn phí hoặc được hỗ trợ cho người nghèo (trong trường hợp dự án hướng tới người nghèo, người thu nhập thấp).

 

Ngoài ra, một dự án PPP được đánh giá là hiệu quả khi nó đóng góp một cách tích cực vào tăng trưởng kinh tế và thu nhập cho xã hội. Thông qua việc tính toán số việc làm được tạo ra khi thực hiện dự án, thu nhập của người lao động khi dự án được thực hiện và đi vào hoạt động hay các tác động gián tiếp mà dự án mang lại cho địa phương về mặt phát triển kinh tế và ổn định xã hội, chúng ta có thể biết được dự án có thực sự đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế và thu nhập cho xã hội hay không.

TS. Nguyễn Minh Hằng

Trưởng khoa Luật thuộc  Trường Đại học Ngoại thương Trọng tài viên VIAC

ngocthanh