Cần lập nhóm công tác Việt - Trung để rà soát số liệu thống kê

Chênh lệch số liệu thống kê xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Trung Quốc năm 2014 ở mức khá cao, điều này đã gây băn khoăn cho nhiều đại biểu Quốc hội cũng như dư luận.
Cần lập nhóm công tác Việt - Trung để rà soát số liệu thống kê

Chênh lệch số liệu thống kê xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Trung Quốc năm 2014 ở mức khá cao, điều này đã gây băn khoăn cho nhiều đại biểu Quốc hội cũng như dư luận. 

IMG

Bà Lê Thị Minh Thủy, Vụ trưởng Vụ Thống kê Thương mại và Dịch vụ, Tổng cục Thống kê

Để nhìn nhận toàn diện, khách quan về sự chênh lệch số liệu này, bà Lê Thị Minh Thủy, Vụ trưởng Vụ Thống kê thương mại và dịch vụ thuộc Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) đã có những lý giải về những yếu tố liên quan đến phương pháp thống kê, sự chênh lệch số liệu thông qua việc phân tích, so sánh số liệu từ nguồn số liệu thống kê của Việt Nam và thống kê của Liên hợp quốc (UN-COMTRADE).

 

PV: Thưa bà, gần đây có nhiều ý kiến cho rằng con số 20 tỷ USD xuất siêu với Trung Quốc mà “ta không biết”. Vậy sự chênh lệch này là do đâu?

Bà Lê Thị Minh Thủy: Về xuất khẩu, số liệu năm 2014 của Việt Nam thấp hơn 5 tỷ USD so với số liệu nhập khẩu của Trung Quốc. So sánh số liệu hai nước cho thấy chênh lệch thể hiện chủ yếu ở nhóm hàng hóa máy móc, thiết bị điện và các bộ phận của chúng với 5,5 tỷ USD, trong đó tập trung vào nhóm hàng điện tử, điện thoại, là nhóm hàng Việt Nam gia công, lắp ráp là chủ yếu. Nguyên nhân là do hàng Việt Nam  sau khi sản xuất được chuyển tới một nước thứ ba và Trung Quốc nhập khẩu hàng hóa này từ nước thứ ba với xuất xứ Việt Nam. Với nhóm hàng khoáng sản, chênh lệch tổng số không nhiều, nhưng riêng quặng, xỉ và tro thì chênh khoảng gần 400 triệu USD.

Về nhập khẩu, chênh lệch lớn nhất là các nhóm hàng tiêu dùng và sản xuất, gia công, máy móc thiết bị, xe cộ... ở mức khoảng 12,5 tỷ USD (chiếm trên 60%). Ngoài ra, nhóm rau quả các loại, đồ gỗ, gốm sứ, đồ dùng gia đình bằng kim loại cũng có sự chênh lệch lớn.

 

PV: Nguyên nhân cụ thể của những chênh lệch này là gì, thưa bà?

Bà Lê Thị Minh Thủy: Từ so sánh số liệu phân tích và thực tế có thể lý giải các nguyên nhân sau:

Một là, sự khác biệt phương pháp thống kê nước đối tác: vì xuất khẩu thống kê theo “nước cuối cùng hàng đến” nên trường hợp hàng Trung Quốc, bao gồm hàng xuất xứ Trung Quốc hoặc xuất xứ nước khác đưa sang Việt Nam được Trung Quốc thống kê là xuất cho Việt Nam, trong khi Việt Nam chỉ thống kê những hàng hóa có xuất xứ Trung Quốc, các hàng hóa có xuất xứ nước khác được thống kê là nhập khẩu từ nước khác.

Hai là, do phạm vi thống kê: một số luồng hàng từ Trung Quốc vào Việt Nam nhưng không thuộc phạm vi thống kê: hàng tạm nhập tái xuất, quá cảnh hoặc chuyển khẩu từ Trung Quốc, Hồng Kông. Chẳng hạn, năm 2014 nhập khẩu của Việt Nam thấp hơn xuất khẩu của Hồng Kông. Do lợi thế về khoảng cách gần giữa Việt Nam - Hồng Kông, luồng hàng giữa Trung Quốc và Hồng Kông có thể được vận chuyển qua Việt Nam với thủ tục về tạm nhập tái xuất, quá cảnh hoặc chuyển khẩu. Việt Nam không thống kê nhưng Trung Quốc và Hồng Kông thống kê là xuất khẩu với nước hàng đến là Việt Nam.

Ba là, do xác định trị giá thống kê khác nhau: hai nước cùng áp dụng nguyên tắc xác định trị giá hải quan nhưng với một số trường hợp, hải quan Trung Quốc và Việt Nam có thể xác định trị giá lô hàng cao thấp khác nhau.

Bốn là, hoạt động nhập khẩu lậu vào Việt Nam: cũng như hầu hết các nước, hàng nhập khẩu lậu không nằm trong phạm vi thống kê của Việt Nam. Với biên giới đường bộ dài, khó kiểm soát, hàng hóa được nhập lậu từ Trung Quốc vào Việt Nam qua đường tiểu ngạch bởi cư dân biên giới như rau quả, quần áo và trang phục, giày dép, đồ dùng gia đình... Nếu phía Trung Quốc kiểm soát tốt hoạt động này bên kia biên giới thì hàng hóa được tính trong xuất khẩu của Trung Quốc, nhưng không nằm trong thống kê nhập khẩu của Việt Nam. Có một vài nước thực hiện ước tính con số này trong số nhiều “hoạt động kinh tế ngầm”.

Năm là, do gian lận thương mại: nhiều doanh nghiệp Việt Nam khi nhập khẩu hàng hóa, đặc biệt là với các hàng hóa chịu thuế, đã thông đồng với doanh nghiệp đối tác khai giá thấp để hưởng mức thuế thấp. Ngược lại, các doanh nghiệp Trung Quốc cũng có thể khai trị giá xuất khẩu cao để hưởng thuế khấu trừ cao.

Sáu là, sự lẫn lộn giữa hàng hóa và dịch vụ xuất nhập khẩu trong thống kê: một số sản phẩm có thể được Việt Nam  tính vào dịch vụ nhưng Trung Quốc coi là hàng hóa, đặc biệt là các sản phẩm có liên quan đến công nghệ thông tin như phần mềm, trò chơi điện tử vốn được lưu giữ trên băng, đĩa mềm. Trong nhiều trường hợp, ranh giới phân biệt không rõ ràng nếu người khai hải quan không mô tả rõ.

 

PV: Thưa bà, số liệu của Trung Quốc với các nước khác có sự chênh lệch giống như với Việt Nam không?

Bà Lê Thị Minh Thủy: Số liệu từ UN-TRADECOM cho thấy, thống kê Trung Quốc chênh lệch khá nhiều với các nước. Cụ thể, năm 2013, thống kê xuất khẩu của Trung Quốc sang các đối tác cao hơn thống kê nhập khẩu của các nước này từ Trung Quốc: Malaysia là 12 tỷ USD, tương đương 27%; Indonesia là 7,1 tỷ USD, tương đương 19%; Philippines là 11,3 tỷ USD, tương đương 57%... Với các nước phát triển, số liệu xuất nhập khẩu của Trung Quốc cũng có sự chênh lệch. Điều này chứng tỏ hàng hóa Trung Quốc khi vào các nước đều thông qua nước thứ 3 nhưng các nước vẫn ghi nhận đây là hàng hóa có xuất xứ Trung Quốc.

 

PV: Vậy, các nước có thực hiện rà soát, đối chiếu số liệu không, thưa bà?

Bà Lê Thị Minh Thủy: Trong khuôn khổ hợp tác ASEAN, Việt Nam cũng đã tiến hành rà soát song song số liệu với Malaysia và Indonesia vào tháng 9/2012. Vì Trung Quốc là bạn hàng lớn nhất của Việt Nam, tuyến biên giới đường bộ dài nên cần đề xuất thành lập Nhóm công tác hải quan hai nước phối hợp, có sự tham gia của các ngành liên quan để thực hiện rà soát số liệu, chính sách thương mại… nhằm hiểu rõ hơn về nội hàm số liệu thống kê và sử dụng cho các mục tiêu lập chính sách, đầu tư, nghiên cứu, đồng thời có biện pháp hiệu quả trong việc quản lý các luồng hàng hóa có liên quan đến Trung Quốc, kiểm soát buôn lậu, gian lận thương mại và các chính sách có liên quan khác.

 

PV: Thưa bà, thống kê Việt Nam hiện nay đã theo chuẩn mực quốc tế?

Bà Lê Thị Minh Thủy: Thống kê xuất nhập khẩu của Việt Nam tổng hợp theo khuyến nghị của Cơ quan Thống kê Liên hợp quốc phiên bản năm 2010 từ nguồn số liệu chính là tờ khai hải quan do Tổng cục Hải quan thu thập, tổng hợp và báo cáo Tổng cục Thống kê. Phạm vi thống kê bao gồm các hàng hóa mua bán thông thường, đưa ra/vào lãnh thổ kinh tế của Việt Nam, không bao gồm hàng tạm nhập tái xuất, quá cảnh, chuyển khẩu hàng hóa qua Việt Nam. Xuất khẩu được tính theo giá FOB (free on board) là giá giao hàng tại biên giới Việt Nam. Nhập khẩu được tính theo giá CIF (cost, insurance and freight) bao gồm giá của hàng hóa, chi phí vận tải, bảo hiểm hàng hóa về đến biên giới Việt Nam.

Về nước đối tác, xuất khẩu hàng hóa tính theo “nước cuối cùng hàng đến” – nước mà tại thời điểm khai hải quan, người xuất khẩu biết được hàng sẽ được chở đến đó để bốc dỡ, không tính nước mà hàng hóa trung chuyển. Nhập khẩu hàng hóa tính theo “nước xuất xứ” – nước mà tại đó hàng hóa được nuôi trồng, khai thác, sản xuất hoặc chế biến, theo quy tắc xuất xứ của nước nhập khẩu. Cần lưu ý là quy tắc xuất xứ của từng nước có khác nhau.

 

PV: Xin cảm ơn bà!

H. Bình (ghi) 

ngocthanh