Nhắm mắt giải ngân để được nhà thầu “hỗ trợ”

Các bị cáo nguyên là cựu quan chức đường sắt đã làm trái công vụ, vì động cơ vụ lợi, lợi ích nhóm đã hách dịch, sách nhiễu, gây phiền hà cho nhà thầu, đã vi phạm Quy tắc đạo đức
Nhắm mắt giải ngân để được nhà thầu “hỗ trợ”

Các bị cáo nguyên là cựu quan chức đường sắt đã làm trái công vụ, vì động cơ vụ lợi, lợi ích nhóm đã hách dịch, sách nhiễu, gây phiền hà cho nhà thầu, đã vi phạm Quy tắc đạo đức và ứng xử trong đấu thầu liên quan đến ODA Nhật Bản.

IMG

Các bị cáo tại phiên xét xử ngày 27/10

Ảnh: Tiên Giang

Giải ngân nhưng không kiểm soát về chất lượng, tiến độ 

Quá trình xét xử, Phạm Hải Bằng, bị cáo chính, nguyên Phó Giám đốc Ban quản lý các dự án đường sắt Việt Nam, Chủ nhiệm Dự án Tuyến đường sắt số 1 đã cho biết, việc nhận khoản tiền 11 tỷ đồng chỉ là để chi hộ nhà thầu JTC (Nhật Bản) các khoản hội họp, tổ chức lễ ký kết, in ấn tài liệu… Các khoản chi này hoàn toàn theo thỏa thuận của hợp đồng. Nhà thầu JTC đã lấy tiền này từ khoản lợi nhuận dự kiến thu được khi thực hiện hợp đồng tư vấn thiết kế cho dự án đường sắt dài 28km từ Yên Viên đến Ngọc Hồi.

Nhưng trên thực tế, cựu quan chức đường sắt này đã nhiều lần trao đổi trực tiếp với đại diện của nhà thầu JTC, nêu khó khăn của Ban quản lý các dự án đường sắt Việt Nam để nhà thầu JTC hỗ trợ. Cựu Phó Giám đốc Ban quản lý còn gọi điện thoại, gửi email yêu cầu nhà thầu Nhật Bản chi tiền. Cùng với Phạm Hải Bằng, các bị cáo khác đều là những người có chức vụ, quyền hạn, hưởng lương của Nhà nước nhưng vì động cơ cá nhân, vụ lợi, lợi ích nhóm nên có hành vi sách nhiễu trong việc ký hợp đồng, yêu cầu nhà thầu JTC nhiều lần đưa tiền cho Ban quản lý.

Cũng vì có việc “hỗ trợ khó khăn” của nhà thầu nên các bị cáo không thực hiện nghiêm túc các điều khoản trong hợp đồng hai bên ký kết, đặc biệt là điều khoản thanh toán. Việc giải ngân được tiến hành trong khi không có sự kiểm soát chặt chẽ về số liệu, chất lượng, tiến độ sản phẩm báo cáo do nhà tư vấn thực hiện. Dù không có đầy đủ chứng từ theo đúng quy định trong hợp đồng nhưng các bị cáo đã thực hiện giải ngân. 

Lượng tiền giải ngân cũng không phù hợp với tiến độ sản phẩm. Tiến độ thực hiện hợp đồng chậm, sản phẩm không đạt tiến độ, sản phẩm đạt yêu cầu mới có 47%, sản phẩm chưa hoàn thành chiếm tỷ lệ 45% so với hợp đồng nhưng các bị cáo vẫn giải ngân cho nhà thầu JTC. Đến nay, số tiền tương đương 80,43% giá trị ngoại tệ và 69% giá trị nội tệ theo hợp đồng đã được giải ngân, nhiều hơn tỷ lệ sản phẩm hoàn thành.

Trong việc chi lương cho phía Nhật Bản cũng vậy. Các cựu quan chức ngành đường sắt đã không kiểm soát hóa đơn chứng từ chi lương theo đúng quy định của hợp đồng. Hồ sơ thanh toán không có báo cáo và tài liệu như quy định, chỉ có  Bảng chấm công, Bảng thanh toán lương. Và đáng nói là việc giải ngân không đúng quy định này được thực hiện song song với hành vi chi tiền “hỗ trợ“ của phía Nhật Bản. 

Mặc dù đánh giá hành vi của các bị cáo là nghiêm trọng, gây hậu quả nặng nề nhưng xét đến việc các bị cáo sử dụng số tiền nói trên vào mục đích chung, các bị cáo có nhân thân tốt, thành khẩn khai báo, đã khắc phục một phần hậu quả, gia đình có công, Hội đồng xét xử đã quyết định mức án:

Phạm Hải Bằng (49 tuổi), nguyên Phó giám đốc Ban quản lý các dự án đường sắt Việt Nam, nguyên Chủ nhiệm Dự án Tuyến số 1, bị tuyên phạt 12 năm tù giam.

Phạm Quang Duy (40 tuổi), nguyên Trưởng phòng Dự án 3, Điều phối viên Dự án tuyến số 1, bị tuyên phạt 8 năm 6 tháng tù giam.

Nguyễn Nam Thái (38 tuổi), Phó Trưởng phòng Dự án, là chuyên viên kỹ thuật Dự án, bị tuyên phạt 11 năm tù giam.

Các cựu giám đốc Ban quản lý các dự án đường sắt Việt Nam Trần Văn Lục (57 tuổi) bị tuyên phạt 5 năm 6 tháng tù giam; Nguyễn Văn Hiếu (53 tuổi), Trần Quốc Đông (51 tuổi) cùng bị tuyên phạt 7 năm 6 tháng tù giam.

Đồng thời, bản án còn buộc các bị cáo cùng phải chịu trách nhiệm nộp lại số tiền 11 tỷ đồng và kê biên nhà đất của các bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Vi phạm nhiều quy định của pháp luật

Các bị cáo đều là quan chức trong ngành đường sắt, đều là người có chức vụ, quyền hạn. Theo quy định của Pháp lệnh Cán bộ, công chức, cán bộ, công chức không được cửa quyền, hách dịch, sách nhiễu, gây phiền hà đối với các tổ chức, cá nhân trong khi giải quyết công việc.

Theo quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng, cán bộ, công chức, viên chức không được nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân liên quan đến công việc do mình giải quyết hoặc thuộc phạm vi quản lý của mình.

Theo Quy tắc đạo đức và ứng xử trong đấu thầu liên quan đến ODA Nhật Bản được Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành kèm theo Văn bản số 4730/BKH-QLĐT thì không đưa, nhận hoặc đòi hỏi những thứ có giá trị hoặc những hình thức đãi ngộ của cá nhân và tổ chức có liên quan đến quá trình lựa chọn nhà thầu, thực hiện hợp đồng.

Theo quy định trong pháp luật kế toán thì các khoản thu, chi của cơ quan tổ chức phải mở sổ sách kế toán ghi chép hàng ngày, thể hiện rõ các khoản thu, chi tại mọi thời điểm, nhưng các bị cáo không đưa vào sổ sách mà để ngoài để chi tiêu cho cá nhân, tập thể không minh bạch. Đây là hành vi thể hiện tính mục đích vụ lợi, lợi ích nhóm. 

Tất cả các quy định này đều bị các cựu quan chức của Ban quản lý các dự án đường sắt Việt Nam vi phạm.

Cơ quan xét xử đánh giá, hành vi các bị cáo là nghiêm trọng, xâm hại đến tài sản của người khác, làm chậm tiến độ Dự án, gây ảnh hưởng xấu tới quan hệ của Việt Nam với Nhật Bản và nước khác. Thực tế, sau khi vụ việc bị phát hiện, phía Nhật Bản đã tạm dừng các dự án ODA liên quan đến Tổng công ty Đường sắt Việt Nam. Bản thân Dự án Tuyến đường sắt số 1 khi đó đang triển khai đã tạm dừng toàn bộ và chưa biết đến khi nào tiếp tục giải ngân để triển khai. Chính phủ Việt Nam đã ngừng triển khai Gói thầu giai đoạn 1, ngừng triển khai Gói thầu Tư vấn thiết kế giai đoạn 2a… Việc này đã làm gián đoạn, ngưng trệ quá trình xây dựng đổi mới hệ thống đường sắt Việt Nam, gây ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế cả nước.

Việt An

ngocthanh