“Giấy phép con” trong đấu thầu (Kỳ 4): Hồ sơ đề nghị cấp phép thầu có gì?

Nghị định số 63/2014/NĐ-CP (NĐ63) của Chính phủ được cho là đã có bước tiến mạnh mẽ để tránh tồn tại “giấy phép con” không cần thiết và tránh việc cố gắng “níu kéo” các quy định mang tính
“Giấy phép con” trong đấu thầu (Kỳ 4): Hồ sơ đề nghị cấp phép thầu có gì?

Nghị định số 63/2014/NĐ-CP (NĐ63) của Chính phủ được cho là đã có bước tiến mạnh mẽ để tránh tồn tại “giấy phép con” không cần thiết và tránh việc cố gắng “níu kéo” các quy định mang tính “xin - cho” trong việc cấp phép, quản lý đấu thầu. Trước thực tế hoạt động cấp giấy phép thầu vẫn diễn ra dù NĐ63 đã có hiệu lực thi hành hơn 1 năm nay, để trả lời các câu hỏi: “Mục tiêu cấp phép để làm gì? Làm sao để quản lý nhà thầu nước ngoài tốt hơn?...”, Báo Đấu thầu tiếp tục tìm hiểu về các thủ tục cấp phép thầu.

Tiếp cận thực tế bộ hồ sơ mẫu đề nghị cấp giấy phép thầu tại Bộ phận một cửa của Sở Xây dựng Hà Nội, chúng tôi nhận thấy độ dày của nó thậm chí lớn hơn hoặc tương đương một hồ sơ dự thầu cỡ lớn, với một loạt các thủ tục hành chính kèm theo như quy định tại Điều 1 của Thông tư số 01/2012/TT-BXD (TT01).

Đơn cử như bộ hồ sơ đồ sộ của Công ty Hazama Ando (Nhật Bản) xin giấy phép thầu cho Công trình xây dựng giai đoạn 4 Dự án Công ty TNHH Nissei Electric Hà Nội tại Khu công nghiệp Thăng Long, Đông Anh, Hà Nội. Bộ hồ sơ cấp phép thầu này có 6 phần, bao gồm: Đơn đề nghị cấp giấy phép thầu; Bản sao quyết định chọn thầu/hợp đồng; Bản sao giấy phép kinh doanh của Công ty Hazama Ando tại Nhật Bản; Biểu báo cáo kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực xây dựng của Công ty Hazama Ando và Báo cáo tài chính đã được kiểm toán trong 3 năm gần nhất; Biên bản thỏa thuận cam kết sử dụng thầu phụ Việt Nam để thực hiện công việc nhận thầu và văn bản chấp thuận của chủ đầu tư; Bản sao giấy phép đầu tư của chủ đầu tư. 

Theo quy định tại Điều 1 của TT01 về hồ sơ đề nghị cấp giấy phép thầu đối với tổ chức, nhà thầu phải nộp trực tiếp hoặc qua đường bưu điện 1 bộ hồ sơ gốc và 1 bộ hồ sơ sao (bản photocopy) tại cơ quan cấp giấy phép thầu. TT01 cũng yêu cầu hồ sơ đề nghị cấp phép thầu phải bao gồm 6 loại tài liệu, đáng chú ý là trong đó có các tài liệu như: 

- Bản sao có chứng thực Giấy phép thành lập (hoặc Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của tổ chức) và chứng chỉ hành nghề (nếu có) của nước, nơi mà nhà thầu nước ngoài mang quốc tịch cấp (Khoản 3 Điều 1 của TT01);

- Biểu báo cáo kinh nghiệm hoạt động xây dựng liên quan đến công việc nhận thầu theo mẫu tại Phụ lục số 2 của TT01 và Báo cáo kết quả kiểm toán hàng năm của 3 năm gần nhất (đối với trường hợp nhà thầu nhận thực hiện gói thầu thuộc đối tượng không bắt buộc phải áp dụng theo quy định của pháp luật về đấu thầu của Việt Nam) (Khoản 4 Điều 1 của TT01); 

- Hợp đồng hoặc thỏa thuận liên danh với nhà thầu Việt Nam đối với trường hợp đã ký hợp đồng liên danh khi dự thầu hoặc chào thầu. Hợp đồng với thầu phụ Việt Nam đối với trường hợp đã xác định được danh sách thầu phụ Việt Nam khi dự thầu hoặc chào thầu. Trường hợp khi dự thầu hoặc chọn thầu chưa xác định được thầu phụ thì phải có hợp đồng hoặc thỏa thuận nguyên tắc với thầu phụ Việt Nam kèm theo văn bản chấp thuận của chủ đầu tư (Khoản 5 Điều 1 của TT01). 

Với các thủ tục được yêu cầu trong hồ sơ cấp phép thầu như vậy, các chuyên gia đấu thầu cho rằng, có sự lặp lại không cần thiết của nhiều thủ tục, vì nếu nhà thầu đã được chủ đầu tư lựa chọn thì đã được xem xét về năng lực, kinh nghiệm trong quá trình xét thầu. 

Liên quan đến thủ tục cấp phép thầu, trong đó có các yêu cầu trùng lặp với yêu cầu được nêu trong hồ sơ mời thầu, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) cho rằng, hồ sơ mời thầu đối với lĩnh vực xây dựng nói riêng, ngoài việc tuân thủ quy định của pháp luật về đấu thầu, còn thể hiện các yêu cầu về điều kiện hoạt động xây dựng theo pháp luật về xây dựng. Do vậy, để chủ đầu tư, bên mời thầu có thể đánh giá một nhà thầu là đáp ứng năng lực để thực hiện gói thầu thì nhà thầu đó, trước hết phải đưa ra các giấy tờ, thủ tục hành chính để chứng minh là đáp ứng các điều kiện về năng lực trong hoạt động xây dựng theo từng loại và cấp công trình, mà không phải là sau khi họ đã trúng thầu mới xem xét các điều kiện này. 

Bộ KH&ĐT cũng cho rằng, việc quản lý nhà thầu nước ngoài là cần thiết nhưng nếu quản lý theo hình thức giấy phép thầu sẽ chỉ mang nhiều ý nghĩa “hình thức” và hành chính, mà thực tế sẽ không góp phần nâng cao hoặc đảm bảo chất lượng của nhà thầu. Đồng thời, chất lượng hoạt động của nhà thầu nước ngoài ra sao, cơ quan cấp phép hầu như không nắm được và không chịu trách nhiệm, trách nhiệm là của các chủ đầu tư. 

Và NĐ63 được cho là đã có bước tiến mạnh mẽ hơn để tránh tồn tại “giấy phép con” không cần thiết và tránh việc một số cơ quan cố gắng “níu kéo” các quy định mang tính “xin - cho” gây phiền hà cho nhà thầu. Theo đó, tại Khoản 1 Điều 128 của Nghị định này đã quy định rõ: “Trong vòng 15 ngày, kể từ ngày hợp đồng ký kết với nhà thầu nước ngoài có hiệu lực, chủ đầu tư các dự án có trách nhiệm gửi báo cáo bằng văn bản về thông tin nhà thầu trúng thầu đến Bộ KH&ĐT, Bộ quản lý ngành và Sở KH&ĐT ở địa phương nơi triển khai dự án để tổng hợp và theo dõi” (Điểm c) và “Nhà thầu nước ngoài được lựa chọn theo quy định của Luật Đấu thầu không phải xin cấp giấy phép thầu” (Điểm d).

Nghị định của Chính phủ đã được ban hành và có hiệu lực hơn 1 năm nay. Song, dường như mong muốn “tháo gỡ” được thủ tục “cấp giấy phép thầu”, nhằm giúp các nhà thầu nhanh chóng triển khai thực hiện gói thầu, bảo đảm tiến độ đã cam kết với chủ đầu tư đã không được như kỳ vọng khi vẫn diễn ra hoạt động cấp phép thầu. 

Báo Đấu thầu sẽ tiếp tục thông tin đến bạn đọc các vấn đề xung quanh “giấy phép con” trong đấu thầu trong các số báo tiếp theo.

Hoàng Liên

ngocthanh