“Đại án” đường sắt: Vi phạm nguyên tắc đấu thầu

Các cựu quan chức đường sắt đã vi phạm Quy tắc đạo đức và ứng xử trong đấu thầu liên quan đến ODA Nhật Bản được quy định tại Văn bản số 4730/BKH-QLĐT của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và nhiều quy định pháp luật khác liên quan.
“Đại án” đường sắt: Vi phạm nguyên tắc đấu thầu

Các cựu quan chức đường sắt đã vi phạm Quy tắc đạo đức và ứng xử trong đấu thầu liên quan đến ODA Nhật Bản được quy định tại Văn bản số 4730/BKH-QLĐT của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và nhiều quy định pháp luật khác liên quan.

IMG

Bị cáo Phạm Hải Bằng và các bị cáo khác trong phiên tòa ngày 26/10

 Ảnh: V.A

Ngày 26/10, Tòa án nhân dân TP. Hà Nội đưa ra xét xử vụ án 6 cựu quan chức đường sắt nhận 11 tỷ đồng tiền “hỗ trợ” từ nhà thầu Nhật Bản. Bị cáo chính của vụ án, Phạm Hải Bằng, nguyên Phó Giám đốc Ban quản lý các dự án đường sắt Việt Nam (RPMU), Chủ nhiệm Dự án tuyến số 1, bị cáo buộc đã có hành vi làm trái với các quy định trong khi thi hành công vụ. Cụ thể, Phạm Hải Bằng đã nêu những khó khăn của Ban quản lý RPMU trong khi thực hiện dự án tuyến đường sắt dài 28km này và gợi ý nhà thầu Nhật Bản hỗ trợ. Trên thực tế, nhà thầu JTC đã nhiều lần “hỗ trợ” Ban quản lý RPMU với tổng số tiền là 11 tỷ đồng.

 

Ban quản lý dự án chi hộ nhà thầu?

Tại phiên tòa, Phạm Hải Bằng đã biện hộ khoản tiền 11 tỷ đồng chỉ là tiền chi hộ cho nhà thầu. Theo lý giải của Phạm Hải Bằng, theo hợp đồng dịch vụ tư vấn kỹ thuật ký với Liên danh nhà thầu do JTC đứng đầu thì phía nhà thầu có nghĩa vụ phải chịu tất cả chi phí trong quá trình thực hiện đến khi ra sản phẩm. Trong đó, có các khoản hội họp, ký kết… do nhà thầu là phía nước ngoài chi không tiện bằng Việt Nam nên nhờ phía Ban quản lý chi hộ và chuyển tiền. Khi chi tiêu thì có theo dõi nhưng chi xong rồi thì không lưu lại nữa vì không phải quản lý những chi tiêu này. Phía nhà thầu Nhật cũng không yêu cầu lưu giữ.

 

Cũng có lúc bị cáo Phạm Hải Bằng thừa nhận, đây là tiền nhà thầu hỗ trợ ngoài hợp đồng cho Ban quản lý nhưng không thừa nhận bản thân đã “gợi ý” nhà thầu hỗ trợ kinh phí mà chỉ đề cập đến các khó khăn của Ban quản lý. Việc chi tiền hỗ trợ là tự nhà thầu tự nguyện hỗ trợ từ nguồn lợi nhuận dự kiến có được khi thực hiện hợp đồng.

 

Trước khi kết thúc phần xét hỏi, Hội đồng xét xử đã tập trung hỏi rõ bị cáo Phạm Hải Bằng khoản tiền 11 tỷ đồng đó là tiền hỗ trợ của nhà thầu hay là khoản chi thuộc trách nhiệm của nhà thầu theo hợp đồng? Bị cáo Bằng khẳng định, đó là trách nhiệm chi của nhà thầu nhưng nhờ Ban quản lý chi hộ nên chuyển tiền.

Số tiền 11 tỷ đồng được “hỗ trợ” từ nhà thầu Nhật Bản, theo các cơ quan tố tụng, được các bị cáo chi cho các việc liên quan đến dự án (chi phí tổ chức lễ ký kết hợp đồng, hội họp, tiếp khách, đối ngoại...) chi phí chung cho Tổ Dự án và Ban quản lý như chi nghỉ mát, thưởng ngày lễ, tết cho cán bộ nhân viên, hỗ trợ công đoàn, thanh niên...…Việc nhận và sử dụng tiền của JTC các bị cáo không mở sổ sách, không ghi chép theo dõi tại Ban quản lý các dự án đường sắt Việt Nam hay Tổ Dự án Tuyến đường số 1 và không báo cáo ai tại Tổng công ty Đường sắt Việt Nam.

Hai nhân viên dưới quyền Phạm Hải Bằng là Phạm Quang Duy – Trưởng phòng Dự án 3, sau này là Phó Giám đốc Ban quản lý và Nguyễn Nam Thái thay thế Duy ở vị trí Trưởng phòng Dự án 3 cũng tham gia nhận tiền “hỗ trợ” này.

Ba cựu Giám đốc Ban quản lý qua các thời kỳ gồm Trần Văn Lục, Trần Quốc Đông, Nguyễn Văn Hiếu có được báo cáo về khoản hỗ trợ này và đều được nhận quà Tết 30 - 100 triệu đồng, tùy năm, tùy cá nhân.

Tuy nhiên, khi Hội đồng xét xử truy thêm: Vậy tiền nhờ đó có được quyết toán không, có chứng từ quyết toán không? Trong các khoản chi bị cáo kê ra có chi bồi dưỡng cho Ban quản lý dự án trong các ngày nghỉ lễ, tết, nghỉ mát, mua máy tính, di chuyển văn phòng… có phải khoản chi nhà tư vấn phải trả không? Bị cáo Phạm Hải Bằng đã lúng túng, im lặng rồi thừa nhận bị cáo hiểu đó là tiền hỗ trợ.

 

Các bị cáo Phạm Quang Duy, Nguyễn Nam Thái thừa nhận có nhận tiền nhưng là theo chỉ đạo của Phạm Hải Bằng và không biết gì, không tham gia đàm phán, nói chuyện với phía Nhật Bản để được hỗ trợ. Trần Văn Lục, Trần Quốc Đông, cựu Giám đốc Ban quản lý dự án qua các thời kỳ thừa nhận có nhận tiền quà Tết do Bằng đưa tới nhưng không biết đó là tiền hỗ trợ của nhà thầu Nhật Bản mà chỉ nghĩ đến phương diện tình cảm. Hai bị cáo này phủ nhận việc được Bằng báo cáo về khoản tiền hỗ trợ.

 

Hội đồng xét xử cũng công bố tài liệu hỗ trợ tư pháp từ phía Nhật Bản, lời khai của các bị cáo Nhật tại phiên xử ở Nhật Bản, một người khai rõ: "Tại Dự án này, trước khi bước vào đàm phán hợp đồng, ông Bằng đã yêu cầu Liên danh JKT ký hợp đồng với nhà thầu phụ, Bằng sẽ là người trung gian. Bằng nhận tiền dưới danh nghĩa là tiền giới thiệu nhà thầu phụ cho tôi. Tôi nghĩ, chẳng phải ông Bằng đang làm béo bụng cá nhân ông ấy hay sao. Tôi cho rằng, nếu từ chối yêu cầu đưa hối lộ, ông Bằng là người có quyền cao đến mức như vậy thì đừng nói đến việc tham gia đàm phán hợp đồng, có thể không thỏa thuận được các điều khoản về giá trị hợp đồng hay các điều kiện của hợp đồng ký kết, hoặc hợp đồng sẽ bị kéo dài…".

 

Vi phạm nguyên tắc đấu thầu

Theo đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa, khi giữ cương vị Phó Giám đốc Ban quản lý và Chủ nhiệm Dự án tuyến số 1, khi thương thảo hợp đồng Phạm Hải Bằng đã trao đổi trực tiếp với đại diện nhà thầu gợi ý nêu ra thực trạng khó khăn của Ban quản lý trong việc triển khai Dự án. Bằng đã hứa hẹn sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho nhà thầu khi thực hiện dự án như được ký hợp đồng, điều chỉnh hợp đồng nếu được hỗ trợ. Sau nhiều lần trao đổi, nhà thầu JTC chấp thuận yêu cầu của Bằng và đồng ý chi phí hỗ trợ.

 

Viện kiểm sát cho rằng, các bị cáo lợi dụng chức vụ quyền hạn thực hiện trái công vụ được giao, giá trị thanh toán cho nhà thầu không phù hợp với khối lượng sản phẩm thực tế, Ban quản lý chưa kiểm tra chặt chẽ số lượng, tiến độ sản phẩm, chưa đầy đủ tài liệu chứng từ đã giải ngân, thanh toán chi phí không đảm bảo quy trình. 

 

Hành vi của các bị cáo đã vi phạm các quy định tại Pháp lệnh Cán bộ, công chức; Pháp lệnh Phòng, chống tham nhũng; Luật Tiết kiệm, chống lãng phí; Luật Cán bộ, công chức… Theo đó, cán bộ, công chức phải nghiêm chỉnh chấp hành quy chế của đơn vị, không được lạm dụng chức vụ. Các bị cáo vi phạm Khoản 2 Điều 40 của Luật Phòng, chống tham nhũng quy định, cán bộ, công chức, viên chức không được nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân liên quan đến công việc do mình giải quyết hoặc thuộc phạm vi quản lý của mình.

 

Các bị cáo còn vi phạm Mục 2 của Quy tắc đạo đức và ứng xử trong đấu thầu liên quan đến ODA Nhật Bản. Theo đó, không đưa, nhận hoặc đòi hỏi những thứ có giá trị hoặc những hình thức đãi ngộ của cá nhân và tổ chức có liên quan đến quá trình lựa chọn nhà thầu, thực hiện hợp đồng.

 

Đại diện Viện kiểm sát nhận định, hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nghiêm trọng, làm ảnh hưởng tiến độ Dự án, đến nay chưa xác định được thiệt hại cụ thể… Hành vi này còn xâm phạm lợi ích quốc gia trong việc vay và sử dụng vốn ODA làm xấu hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế, ảnh hưởng phát triển kinh tế. 

 

Đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị mức án đối với Phạm Hải Bằng là 11 - 13 năm tù giam, Nguyễn Nam Thái mức án 10 - 12 năm tù giam; Phạm Quang Duy mức án 8 - 10 năm tù giam; Trần Văn Đông, Nguyễn Văn Hiếu mức án 7 - 9 năm tù giam; Trần Văn Lục mức án 6 - 8 năm tù giam. 

 

Hôm nay (ngày 27/10), phiên tòa tiếp tục.

Việt An

ngocthanh