Thị trường mua sắm chính phủ ở Nhật Bản: Thị trường mua sắm chính phủ Nhật Bản mở cửa đến đâu? (Kỳ 4)

Theo Báo cáo thường niên về mua sắm chính phủ của Nhật Bản năm 2013, trong năm 2012, chủng loại hàng hoá có tỷ lệ mua sắm từ hàng hoá nước ngoài cao nhất là nhóm hàng “Máy bay và các thiết bị liên quan” (chiếm 74,2%
Thị trường mua sắm chính phủ ở Nhật Bản:  Thị trường mua sắm chính phủ Nhật Bản mở cửa đến đâu? (Kỳ 4)

Nhật Bản mua hàng hoá/dịch vụ gì nhiều nhất từ nước ngoài?

Đối với hàng hoá:

Theo Báo cáo thường niên về mua sắm chính phủ của Nhật Bản năm 2013, trong năm 2012, chủng loại hàng hoá có tỷ lệ mua sắm từ hàng hoá nước ngoài cao nhất là nhóm hàng “Máy bay và các thiết bị liên quan” (chiếm 74,2% tổng chi cho nhóm hàng này, tương đương 117 triệu Yên). Tiếp theo là nhóm hàng “Thiết bị y tế” (thú y, nha khoa và phẫu thuật) với 25,8% tổng chi cho hàng hoá của nước ngoài (khoảng 200 triệu Yên). Các hàng hóa thuộc nhóm “Dụng cụ và thiết bị khoa học; Dụng cụ và thiết bị kiểm soát” cũng được mua nhiều từ nước ngoài, chiếm 20,1% tổng chi (khoảng 291 triệu Yên). Một nhóm hàng khác đáng chú ý mà các cơ quan chính phủ Nhật Bản mua nhiều từ nước ngoài là “Thuốc và các sản phẩm thuốc” (18,8% tổng chi cho nhóm hàng này là để mua hàng hoá nước ngoài, tương đương 72,4 triệu Yên).

 

Báo cáo này cũng cung cấp thông tin quan trọng về những nhóm hàng Nhật Bản chỉ sử dụng hàng hoá nội địa, hoàn toàn không có “bóng dáng” của hàng hoá nước ngoài. Một số ví dụ là nhóm “Hoá chất”, “Gỗ và các sản phẩm từ gỗ; Nguyên liệu giấy”, “Phương tiện vận tải đường sắt và các thiết bị liên quan”, “Tàu, thuyền và các kết cấu nổi”.

 

Một số loại hàng hoá Nhật Bản mua rất ít từ nước ngoài trong năm 2012 có thể kể tới là “Nông sản và thực phẩm chế biến” (0,5% tổng chi), “Các sản phẩm dệt may” (2,5% tổng chi), “Sắt, thép và các sản phẩm từ sắt thép” (0,1% tổng chi), “Phương tiện vận tải đường bộ” (1,7% tổng chi).

 

Đối với dịch vụ

Năm 2012, Nhật Bản sử dụng khá ít dịch vụ có xuất xứ từ nước ngoài, xét trong tổng chi cho từng nhóm dịch vụ. Đáng chú ý là nhóm “Dịch vụ vận tải hàng không” (ngoại trừ vận chuyển thư bằng đường hàng không) với 19,7% tổng chi (tương đương 2 triệu Yên) cho dịch vụ của nước ngoài. Trong tổng chi cho “Dịch vụ viễn thông” (khoảng 130,5 triệu Yên), 18,4% giá trị mua sắm dịch vụ viễn thông có xuất xứ nước ngoài. Một nhóm dịch vụ khác có xuất xứ nước ngoài nhiều là “Dịch vụ sửa chữa thiết bị, máy móc và sản phẩm kim loại”; cụ thể, trong tổng chi 111,8 triệu Yên cho nhóm dịch vụ này, khoảng 11 triệu Yên (10,1%) được chi mua dịch vụ từ nước ngoài.

 

Trong số 18 nhóm dịch vụ được đề cập trong Báo cáo, có 10 nhóm dịch vụ hoàn toàn không có xuất xứ nước ngoài (hoàn toàn nội địa); đáng chú ý là các nhóm “Dịch vụ bảo trì và sửa chữa phương tiện vận tải”, “Các dịch vụ vận tải mặt đất khác” (trừ vận chuyển thư), “Dịch vụ đại lý vận tải hàng hoá”, “Dịch vụ quảng cáo”, “Dịch vụ lau dọn, vệ sinh”, “Dịch vụ xử lý nước thải, rác thải, dịch vụ vệ sinh môi trường”… Các nhóm dịch vụ mua rất ít từ nước ngoài bao gồm “Dịch vụ in ấn, xuất bản” (chỉ chiếm 0,1% tổng chi), “Dịch vụ máy tính” (1,8% tổng chi), “Dịch vụ chuyển phát” (2,8% tổng chi).

 Tuệ Khanh

 

ngocthanh