Thị trường mua sắm chính phủ ở Nhật Bản: Thị trường mua sắm chính phủ Nhật Bản mở cửa đến đâu? (Kỳ 3)

Là thành viên Hiệp định Mua sắm chính phủ (GPA) của Tổ chức Thương mại thế giới và kí kết các Hiệp định Thương mại tự do (FTA), Nhật Bản cho phép hàng hoá, dịch vụ và nhà thầu từ 42 thành viên GPA và các đối tác FTA
Thị trường mua sắm chính phủ ở Nhật Bản:  Thị trường mua sắm chính phủ Nhật Bản mở cửa đến đâu? (Kỳ 3)

Là thành viên Hiệp định Mua sắm chính phủ (GPA) của Tổ chức Thương mại thế giới và kí kết các Hiệp định Thương mại tự do (FTA), Nhật Bản cho phép hàng hoá, dịch vụ và nhà thầu từ 42 thành viên GPA và các đối tác FTA tham gia cạnh tranh các gói thầu mua sắm chính phủ (MSCP) thuộc phạm vi điều chỉnh của các hiệp định. Vậy các cơ quan chính phủ của Nhật Bản mua sắm hàng hoá, dịch vụ gì từ nước ngoài? Bao nhiêu nhà thầu nước ngoài là người thắng thầu? Các số liệu thống kê trong Báo cáo thường niên về MSCP sẽ cho ta cái nhìn tổng quan về “độ mở cửa” của quốc gia Đông Á này trong lĩnh vực MSCP.

 

Thị phần cho nhà thầu nước ngoài

Nhìn chung, trong thị trường MSCP Nhật Bản, “miếng bánh” mà nhà thầu nước ngoài giành được là rất khiêm tốn, thể hiện qua cả giá trị mua sắm và số lượng hợp đồng mà họ chiến thắng.

Biểu đồ 1 cho thấy, trong số 18.344 triệu Yên do các cơ quan mua sắm của Nhật Bản chi ra trong năm 2012, chỉ có khoảng 543,5 triệu Yên (3%) được mua từ nhà thầu nước ngoài. Xét về số lượng hợp đồng, chỉ có khoảng 467 hợp đồng chiếm 3,2% trong tổng số 14.640 hợp đồng được trao cho các nhà thầu nước ngoài.

Trong năm 2012, nhà thầu nước ngoài giành được hợp đồng MSCP ở Nhật Bản chủ yếu đến từ Hoa Kỳ và Liên minh Châu Âu (EU). Cụ thể, nhà thầu đến từ Hoa Kỳ giành được 220 hợp đồng với tổng giá trị 209,2 triệu Yên; nhà thầu của EU giành được 191 hợp đồng với tổng giá trị 238,6 triệu Yên; 56 hợp đồng còn lại với tổng giá trị 95,7 triệu Yên được trao cho nhà thầu từ các quốc gia/vùng lãnh thổ khác. 

 

Thị phần cho hàng hoá và dịch vụ của nước ngoài

Trong khi yếu tố nhà thầu nước ngoài không phản ánh được một cách đầy đủ về độ mở cửa của thị trường MSCP Nhật Bản (vì nhà thầu nước ngoài vẫn có thể cung cấp hàng hoá/dịch vụ có xuất xứ từ Nhật Bản), các số liệu về hàng hoá và dịch vụ của nước ngoài sẽ cho ta cái nhìn toàn diện hơn về sự mở cửa của thị trường MSCP quốc gia Đông Á này.

Biểu đồ 2 cho thấy 2 điểm đáng lưu ý. Thứ nhất, trong giai đoạn 2010 - 2012, tỉ lệ hàng hoá và dịch vụ nói chung của nước ngoài được các cơ quan chính phủ Nhật Bản mua sắm ngày càng giảm, từ 8,2% năm 2010 (tương đương 1.282 triệu Yên) xuống còn 6% năm 2012 ( khoảng 1.100 triệu Yên). Thứ hai, các cơ quan mua sắm ở Nhật Bản sử dụng hàng hoá của nước ngoài nhiều hơn dịch vụ của nước ngoài, mặc dù với mức độ không lớn (10,3% tổng giá trị mua sắm hàng hoá vào năm 2012, tương đương 930 triệu Yên).

IMG

Các hàng hoá và dịch vụ này có xuất xứ từ quốc gia/nền kinh tế nào? Cũng giống như xuất xứ của nhà thầu, Hoa Kỳ và EU là hai nền kinh tế cung cấp nhiều hàng hoá và dịch vụ nhất cho Nhật Bản. Cụ thể, trong năm 2012, hàng hoá và dịch vụ có xuất xứ từ Hoa Kỳ chiếm 45,9% giá trị hàng hoá và dịch vụ mua sắm từ nước ngoài (505,3 triệu Yên trong tổng số 1.100 triệu Yên); hàng hoá và dịch vụ có xuất xứ từ EU chiếm 37,1% giá trị mua sắm hàng hoá và dịch vụ từ nước ngoài (tương đương 408,1 triệu Yên).

 Tuệ Khanh

ngocthanh