Thị trường lao động ASEAN: Khi giá rẻ không còn là cơ hội

Khi chính thức thành lập, Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) sẽ thực hiện tự do luân chuyển năm yếu tố căn bản, trong đó có lao động ngành nghề.
Thị trường lao động ASEAN: Khi giá rẻ không còn là cơ hội

Khi chính thức thành lập, Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) sẽ thực hiện tự do luân chuyển năm yếu tố căn bản, trong đó có lao động ngành nghề. Các chuyên gia cho rằng, sự tự do này vừa là cơ hội cho thị trường lao động Việt Nam, đồng thời cũng là thách thức không nhỏ khi một lượng lớn lao động từ các nước AEC vào Việt Nam sẽ tạo nên cuộc cạnh tranh với lao động trong nước.

IMG

Đầu tư mạnh mẽ cho phát triển lực lượng lao động có kỹ năng thông qua nâng cao chất lượng đào tạo nghề, cùng với cơ chế, chính sách sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực là chìa khóa để Việt Nam vượt qua “bẫy thu nhập trung bình” thành công

Ảnh: Lê Tiên

Nguy cơ thua trên sân nhà

Lâu nay, chúng ta luôn giới thiệu về đội ngũ lao động trong nước với các đặc điểm: cần cù, chịu khó học hỏi, giá rẻ,… Tuy nhiên, khi AEC chính thức thành lập, những yếu tố trên sẽ không còn là lợi thế cạnh tranh của nhân công Việt Nam. Khi tham gia AEC, bên cạnh yêu cầu về kỹ năng nghề nghiệp, người lao động còn cần có ngoại ngữ và các kỹ năng mềm khác để có cơ hội tìm kiếm việc làm tại các quốc gia của AEC. Nếu người lao động trong nước không ý thức được điều này thì nhiều khả năng chúng ta sẽ thua ngay trên “sân nhà”, chứ chưa nói đến chuyện “mang chuông đi đánh xứ người”.

 

Theo Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), AEC sẽ thúc đẩy sự phát triển của các nền kinh tế trong khu vực thêm 7,1% vào năm 2025, đồng thời tạo ra 14 triệu việc làm mới. Tại Việt Nam, nơi tập trung 1/6 lao động của cả khu vực, điều này đồng nghĩa với việc GDP dự kiến sẽ tăng thêm 14,5% và sẽ có thêm hàng triệu việc làm mới. 

 

Tuy nhiên, theo ông Yoshiteru Uramoto, Giám đốc Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) khu vực châu Á - Thái Bình Dương tại Việt Nam, 2/3 số việc làm mới này rất có thể là những công việc yêu cầu chất lượng lao động thấp, “dễ bị tổn thương”, như các lao động tự làm hoặc lao động hộ gia đình. Hiện nay, gần một nửa số lao động Việt Nam đang làm việc trong ngành nông nghiệp, lĩnh vực có năng suất lao động, thu nhập và điều kiện lao động còn ở mức thấp so với một vài nền kinh tế ASEAN khác. Đây cũng sẽ là thách thức đối với Việt Nam.

 

Theo đánh giá của nhiều chuyên gia, thị trường lao động nước ta đang có nghịch lý là thừa lao động nhưng lại thiếu nhân lực có trình độ cao cho những ngành nghề nằm trong định hướng phát triển. Khi AEC chính thức thành lập, sự cần cù, chăm chỉ chưa đủ để người lao động Việt Nam tạo được chỗ đứng trên thị trường, mà quan trọng là phải có trình độ chuyên môn, đạo đức, kỹ năng nghề nghiệp và vốn ngoại ngữ. 

 

Theo Tổng cục Thống kê, hiện Việt Nam có khoảng 48 triệu người trong độ tuổi lao động nhưng số lao động đã được đào tạo nghề chỉ đạt 30%. Nhìn một cách tổng thể, chỉ số ít lao động Việt Nam hiện có đủ khả năng làm chủ các công nghệ mới. Bên cạnh đó, chất lượng và cơ cấu lao động vẫn còn nhiều bất cập so với yêu cầu phát triển và hội nhập. Cơ cấu kinh tế của Việt Nam chủ yếu vẫn là nông nghiệp, nên tỷ lệ lao động tham gia vào thị trường lao động chính thức còn thấp, đạt khoảng 30%. Các chuyên gia trong lĩnh vực lao động cho biết, hiện có khoảng 45% lao động trong lĩnh vực nông nghiệp hầu như chưa qua đào tạo. Các lĩnh vực khác được đào tạo thì trình độ chưa cao, khả năng ngoại ngữ rất kém. Chất lượng nguồn nhân lực không cao, dẫn đến năng suất lao động thấp đang thực sự là một cảnh báo. Theo một báo cáo của ILO mới đây, năng suất lao động của Việt Nam chỉ bằng khoảng 1/5 so với Malaysia; 2/5 so với Thái Lan và 1/15 so với lao động Singapore. 

 

Theo PGS. TS. Phạm Văn Sơn, Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ đào tạo và Cung ứng nhân lực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, trình độ lao động của Việt Nam còn hạn chế về kỹ năng nghề đang gây khó khăn trong việc tiếp thu ứng dụng, trình độ khoa học công nghệ khi tham gia hội nhập. Bên cạnh đó, hiểu biết của lao động Việt Nam về văn hóa doanh nghiệp và pháp luật của nước bạn còn hạn chế. Ngoài ra, tinh thần làm việc theo nhóm và tác phong công nghiệp chưa tốt cũng là điểm yếu khó cạnh tranh khi thị trường lao động được mở cửa. 

 

Trước mắt, trong năm 2015, có 8 ngành nghề lao động trong các nước ASEAN được di chuyển tự do thông qua các thỏa thuận công nhận tay nghề tương đương, gồm: kế toán, kiến trúc, kỹ sư, nha sĩ, bác sĩ, y tá, vận chuyển và nhân viên ngành du lịch. So với toàn bộ cơ cấu nền kinh tế, lao động nhóm này chỉ chiếm số lượng rất nhỏ (1%) tổng số lực lượng lao động. Cơ hội dành cho lao động Việt Nam càng thu hẹp bởi các yêu cầu khắt khe về chuyên môn, ngoại ngữ.

 

Hầu hết các chuyên gia cho rằng, nếu không có các biện pháp tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng đào tạo, hướng nghiệp nhằm bắt kịp trình độ nhân công tại các nước tiên tiến trong khu vực, lao động Việt Nam rất khó để cạnh tranh trong sân chơi khu vực hóa lao động, gia tăng lợi thế của mình và nguy hiểm hơn là có thể đánh mất thị trường và cơ hội làm việc ngay tại quê nhà.

 

Nâng cao chất lượng để nâng cao sức cạnh tranh 

Chủ tịch ADB từng khuyến cáo rằng, Việt Nam cần đầu tư nhiều hơn để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, vì đây là yếu tố then chốt đưa Việt Nam vượt ngưỡng nước có thu nhập trung bình trong những năm tới. Đầu tư mạnh mẽ cho phát triển lực lượng lao động có kỹ năng thông qua nâng cao chất lượng đào tạo nghề, cùng với cơ chế, chính sách sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực chính là chìa khóa để Việt Nam vượt qua “bẫy thu nhập trung bình” thành công và trở thành nước có thu nhập cao trong thời gian sớm hơn dự báo là năm 2058. 

 

Theo PGS. TS. Mạc Văn Tiến, Viện trưởng Viện Nghiên cứu khoa học dạy nghề, để góp phần nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của nhân lực Việt Nam, nhất là khi AEC được thành lập, cần phải đổi mới căn bản và toàn diện hệ thống giáo dục - đào tạo, trong đó có đào tạo nghề ở nước ta. Theo đó, cần nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí của dạy nghề trong chiến lược phát triển nhân lực của đất nước thời kỳ 2011 - 2020. Việt Nam cần hoàn thiện cơ chế, chính sách về dạy nghề, học nghề; sửa Luật Dạy nghề và các quy định liên quan. Có cơ chế để cơ sở dạy nghề là một chủ thể độc lập, tự chủ. Có chính sách đãi ngộ, thu hút giáo viên dạy nghề; chính sách đối với người đứng đầu cơ sở dạy nghề, người lao động qua đào tạo nghề; chính sách đào tạo liên thông, hỗ trợ người học nghề. 

 

Ông Yoshiteru Uramoto, Giám đốc ILO khu vực Châu Á - Thái Bình Dương đưa ra gợi ý, Việt Nam cần ưu tiên thực hiện các biện pháp nâng cao năng suất lao động và chất lượng việc làm trong ngành nông nghiệp và đa dạng hóa công việc trong các ngành chế tạo mới.

 

Đồng quan điểm, PGS. TS. Phạm Văn Sơn cho rằng, để tiến bước vào AEC, Việt Nam cần phải đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Có nguồn nhân lực chất lượng cao, kỹ thuật công nghệ hiện đại, trình độ quản lý chuyên nghiệp và hiểu biết thị trường lao động các nước, chắc chắn Việt Nam sẽ chủ động và thành công trong quá trình hội nhập. Theo đó, giải pháp đột phá là đầu tư phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nâng cao trình độ quản lý sản xuất kinh doanh và nghiên cứu học hỏi kinh nghiệm của các nước tiên tiến trong ASEAN.

Quốc Huy

ngocthanh