Quy mô thị trường mua sắm chính phủ ở Nhật Bản (Kỳ 1)

Ngày 1/5/2014, Chính phủ Nhật Bản đã công bố Báo cáo thường niên về mua sắm chính phủ của nước này năm 2013. Điểm đáng chú ý trong Báo cáo năm 2014 là những số liệu thống kê về về hàng hoá và dịch vụ
Quy mô thị trường mua sắm chính phủ ở Nhật Bản (Kỳ 1)

Ngày 1/5/2014, Chính phủ Nhật Bản đã công bố Báo cáo thường niên về mua sắm chính phủ của nước này năm 2013. Điểm đáng chú ý trong Báo cáo năm 2014 là những số liệu thống kê về về hàng hoá và dịch vụ được đấu thầu mua sắm trong năm 2013. Đây chưa phải là các số liệu đầy đủ (không bao gồm số liệu các gói thầu xây lắp cũng như dịch vụ tư vấn thiết kế), song cũng giúp chúng ta có cái nhìn tổng quan về quy mô thị trường mua sắm chính phủ của quốc gia Đông Á này. 

 

Phạm vi thống kê, khảo sát

Các thông tin, số liệu trong Báo cáo thường niên năm 2014 bắt nguồn từ cuộc điều tra, khảo sát các gói thầu mua sắm hàng hoá và dịch vụ của các cơ quan chính phủ thuộc phạm vi điều chỉnh của các chính sách tự nguyện trong việc mua sắm các sản phẩm và dịch vụ viễn thông, các sản phẩm và dịch vụ công nghệ y tế.

Cuộc khảo sát cũng chỉ tập trung vào các gói thầu mua sắm có ngưỡng giá gói thầu từ 100.000 SDR (đơn vị tiền tệ quốc tế do Quỹ Tiền tệ quốc tế phát hành, tương đương 15 triệu Yên tại thời điểm đó) trở lên trong khoảng thời gian từ ngày 1/1/2012 đến ngày 31/12/2012.

IMG

Chủ thể mua sắm là các cơ quan chính phủ, bao gồm:

(1) 23 cơ quan mua sắm cấp trung ương: Nổi bật trong nhóm cơ quan mua sắm cấp trung ương là 11 bộ thuộc Nội các Nhật Bản (bao gồm Bộ Nội vụ và Truyền thông; Bộ Quốc phòng; Bộ Ngoại giao; Bộ Tài chính; Bộ Đất đai, Kết cấu hạ tầng, Giao thông và Du lịch; Bộ Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thuỷ sản…). Ngoài ra, còn có các cơ quan khác như Toà án tối cao; Cơ quan Kiểm toán; Văn phòng Nội các; Cơ quan Nhân lực quốc gia; Cơ quan Tài chính quốc gia…

(2) 40 tập đoàn/doanh nghiệp nhà nước, bao gồm mua sắm của các doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong lĩnh vực đường sắt (Công ty đường sắt Hokkaido, Công ty đường sắt Tây Nhật Bản, Công ty đường sắt trung ương Nhật Bản, Công ty đường sắt Đông Nhật Bản…); lĩnh vực tài chính - ngân hàng (Tập đoàn Tài chính Nhật Bản; Ngân hàng Phát triển Nhật Bản; Ngân hàng Hợp tác quốc tế Nhật Bản -  JBIC…); lĩnh vực bưu chính viễn thông (Tập đoàn Điện tín và Điện thoại Nippon; Công ty chuyển phát nhanh Đông/Tây/Trung ương Nippon…); Sân bay quốc tế Narita; các trường đại học của Nhật Bản…

(3) 89 đơn vị hành chính độc lập, chủ yếu là các viện/trung tâm nghiên cứu cấp quốc gia trong các lĩnh vực giáo dục, bảo tàng, nghiên cứu con người, nông nghiệp - lâm nghiệp và thuỷ sản, giao thông vận tải, môi trường… Ngoài ra còn có các cơ quan như Cơ quan Thống kê Nhật Bản, Cơ quan Kiểm soát phương tiện giao thông, Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA), Cục In ấn và Xuất bản, Cơ quan Quản lý nguồn nước, Cơ quan Công nghệ, Vận tải và Xây dựng đường sắt Nhật Bản…

 

Tổng giá trị mua sắm

Trong năm 2012, tổng giá trị mua sắm của các cơ quan chính phủ Nhật Bản đạt 18.344 triệu Yên, tăng khoảng 30% so với năm 2011. Trong khi đó, tổng số hợp đồng là 14.640 hợp đồng, tăng 16,1% so với năm 2011.

Dễ nhận thấy, năm 2012 chứng kiến sự tăng khá mạnh (30%) về giá trị mua sắm so với năm 2011. Đây cũng là năm các cơ quan chính phủ Nhật Bản mua sắm nhiều thứ 2 trong giai đoạn 2007 - 2012, chỉ thấp hơn gần 200 triệu Yên so với đỉnh cao năm 2009. Ngược lại, năm 2008 cũng là thời điểm các cơ quan mua sắm của Nhật Bản chi tiêu ít nhất cho các gói thầu mua sắm hàng hoá dịch vụ (đạt 13.648 triệu Yên).

Thanh Tuấn

ngocthanh