Quy định về mua sắm chính phủ trong Hiệp định Thương mại tự do Bắc Mỹ (Kỳ 1)

Hiệp định Thương mại tự do Bắc Mỹ (The North America Free Trade Agreement, viết tắt là NAFTA) được ký kết năm 1992, thông qua vào năm 1993 và có hiệu lực từ ngày 1/1/1994
Quy định về mua sắm chính phủ  trong Hiệp định Thương mại tự do Bắc Mỹ  (Kỳ 1)

Hiệp định Thương mại tự do Bắc Mỹ (The North America Free Trade Agreement, viết tắt là NAFTA) được ký kết năm 1992, thông qua vào năm 1993 và có hiệu lực từ ngày 1/1/1994 với ba nước ký kết là Hoa Kỳ, Canada và Mexico. Ngoài NAFTA là hiệp định chính, ba nước nói trên còn ký thêm 2 hiệp định bổ sung, đó là: Hiệp định Bắc Mỹ hợp tác lao động (The North American Agreement on Labor Cooperation, viết tắt là NAALC) và Hiệp định Bắc Mỹ về hợp tác môi trường (The North American Agreement on Environmental Cooperation, viết tắt là  NAAEC).

 

Về cấu trúc, ngoài lời mở đầu, NAFTA bao gồm 22 chương và 2.206 điều, với các quy định bao quát nhiều lĩnh vực của thương mại quốc tế như thương mại hàng hóa, các hàng rào kỹ thuật trong thương mại, đầu tư, dịch vụ, sở hữu trí tuệ... Khi ra đời, NAFTA từng được kỳ vọng là sẽ tạo nên một mô hình tiêu biểu cho các khu vực mậu dich tự do hiện đại bởi mức độ tự do hóa rất cao của nó. Hiệp định này ngay lập tức đã loại bỏ thuế quan đối với phần lớn giao dịch thương mại hàng hóa giữa ba nước, đồng thời những hạn chế khác đối với thương mại, dịch vụ và đầu tư cũng được loại bỏ theo lộ trình trong thời hạn từ 5 đến 15 năm.

 

Mua sắm chính phủ là một trong những nội dung quan trọng của NAFTA, được trình bày trong một phần riêng, Phần IV với chỉ một chương duy nhất, Chương X, bao gồm 25 điều (từ Điều 1.001 đến Điều 1.025) và các phụ lục ghi nhận các cam kết cụ thể của ba nước ký kết kèm theo. Theo Điều 1.003 của NAFTA, mỗi bên ký kết của Hiệp định này phải thực hiện không phân biệt đối xử cũng như đối xử quốc gia với các nhà cung cấp hàng hóa và dịch vụ đến từ hai nước còn lại trong những hoạt động mua sắm công thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp định. Các nhà cung cấp phải được đối xử giống như các công ty trong nước đang cùng cạnh tranh những cơ hội như nhau trong hoạt động mua sắm chính phủ. Chương X của NAFTA cũng quy định rằng các thủ tục liên quan tới hoạt động mua sắm chính phủ phải được tiến hành theo một cách minh bạch, hiệu quả và công bằng. 

 

Đối với Hoa Kỳ và Canada, Chương X của NAFTA ghi nhận những cam kết tương tự đã được đưa ra trong Hiệp định Thương mại tự do Hoa Kỳ - Canada cũng như tại Bộ luật Mua sắm chính phủ năm 1979 trong khuôn khổ GATT. Trong khi đó, đối với Mexico, những cam kết được đưa ra trong khuôn khổ NAFTA là những cam kết về hạn chế thực tiễn mua sắm chính phủ mang tính phân biệt đối xử đối với hàng hóa, dịch vụ và nhà cung cấp nước ngoài đầu tiên của nước này.

 

Một điểm cần lưu ý là các quy định của NAFTA về vấn đề mua sắm chính phủ được ghi nhận ngay trong Hiệp định và có tính chất bắt buộc đối với tất cả các bên ký kết. Đây là một điểm khác so với tính chất “tùy nghi” của Hiệp định Mua sắm chính phủ (GPA) của WTO khi không bắt buộc tất cả các quốc gia và vùng lãnh thổ muốn gia nhập và trở thành thành viên của WTO phải đồng thời là thành viên của GPA. 

TS. Nguyễn Thị Thu Hiền

Bộ môn Pháp luật thương mại hàng hóa và dịch vụ quốc tế Đại học Luật Hà Nội

ngocthanh