Quan hệ Việt - Mỹ: Tất cả mọi thứ cần phải được bình thường hóa

Khi nhận xét về những bước tiến triển trong mối quan hệ Việt - Mỹ, Đại sứ Mỹ tại Việt Nam Ted Osius đã dùng từ “không thể tin được” bởi thực tế trên thế giới ít có trường hợp nào giống như vậy.
Quan hệ Việt - Mỹ: Tất cả mọi thứ  cần phải được bình thường hóa

Khi nhận xét về những bước tiến triển trong mối quan hệ Việt - Mỹ, Đại sứ Mỹ tại Việt Nam Ted Osius đã dùng từ “không thể tin được” bởi thực tế trên thế giới ít có trường hợp nào giống như vậy. Từ chỗ thù địch, chỉ 20 năm sau ngày bình thường hóa quan hệ, hai nước đã trở thành đối tác toàn diện với nhiều gắn kết cả về chính trị, ngoại giao, an ninh quốc phòng và kinh tế,...

 

Mở rộng quan hệ Việt - Mỹ trên nhiều lĩnh vực 

Gần 20 năm sau khi kết thúc chiến tranh, Mỹ đã áp đặt lệnh cấm vận và ngăn cản các nỗ lực giúp đỡ Việt Nam từ quốc tế. Đến năm 1993, Chính phủ Mỹ mới tuyên bố không ngăn cản các nước khác cho Việt Nam vay tiền trả nợ cho các tổ chức tài chính quốc tế. Năm 1994, Tổng thống Mỹ Bill Clinton tuyên bố bãi bỏ hoàn toàn cấm vận Việt Nam và lập cơ quan liên lạc giữa hai quốc gia. Ngày 11/7/1995 đã đánh dấu bước ngoặt lịch sử trong quan hệ Việt - Mỹ, khi Tổng thống Bill Clinton và Thủ tướng Võ Văn Kiệt tuyên bố bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa hai nước.

IMG

Quan hệ đối tác toàn diện được xác lập trong chuyến thăm Mỹ vào tháng 7/2013 của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã đưa mối quan hệ Việt - Mỹ lên một tầm cao mới

Quan hệ này được triển khai dựa trên phương châm “khép lại quá khứ, hướng tới tương lai”, thể hiện tinh thần mong muốn vượt qua những di chứng từ cuộc chiến tranh Việt Nam và bước qua một trang mới trong quan hệ mà trọng tâm là phát triển kinh tế, thương mại và các lĩnh vực cùng mang lại lợi ích cho nhân dân hai nước, đặt nền móng vững chắc cho mối quan hệ hướng tới tương lai. Về quan hệ chính trị, hai bên đã thiết lập được các kênh đối thoại mang tính xây dựng và thẳng thắn giữa các cấp, các ngành, các tổ chức. Hai bên đã trao đổi nhiều đoàn cấp cao của chính quyền, quốc hội về tất cả các lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế, thương mại. Lãnh đạo cấp cao hai nước cũng có các tiếp xúc thường xuyên tại các diễn đàn quốc tế và khu vực. Quá trình này giúp khẳng định mong muốn chung về quyết tâm xây dựng một khuôn khổ quan hệ ổn định, lâu dài.

 

Đặc biệt, quan hệ đối tác toàn diện được xác lập trong chuyến thăm Mỹ vào tháng 7/2013 của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã đưa mối quan hệ Việt - Mỹ lên một tầm cao mới. Trong năm 2014, hai bên tiếp tục tăng cường các cuộc gặp và chuyến thăm giữa các lãnh đạo cấp cao. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã có cuộc gặp Tổng thống Mỹ Barack Obama bên lề Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) và Hội nghị cấp cao Đông Á. Bí thư Thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị, Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Văn Ninh, Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Bình Minh thăm Mỹ. Ngược lại, các Thượng nghị sĩ Mỹ như John McCain, Ben Cardin, Bob Corker cũng đã đến Việt Nam.

 

Quan hệ quốc phòng - an ninh cũng đã đi vào bình thường hóa. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng hai nước đã có những chuyến thăm viếng lẫn nhau. Kể từ năm 2003, hàng năm tàu quân sự Mỹ đều vào thăm cảng Việt Nam. Gần đây, sự kiện được dư luận quốc tế quan tâm là chuyến thăm Việt Nam lần đầu tiên của Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân, tướng Martin Dempsey vào tháng 8/2014.  Ngoài ra, phải kể đến những bước đột phá trong quan hệ an ninh, quốc phòng Việt - Mỹ như: Mỹ chính thức tuyên bố bãi bỏ một phần lệnh cấm vận vũ khí với Việt Nam; Hợp tác trong lĩnh vực cảnh sát biển được mở rộng khi bên triển khai gói hỗ trợ 18 triệu USD mà Mỹ dành cho Việt Nam nhằm nâng cao năng lực hàng hải. Bên cạnh đó, hai nước đã và đang tích cực hợp tác trong lĩnh vực chia sẻ thông tin chống khủng bố.

IMG

Chúng ta có thể kỳ vọng vào một làn sóng đầu tư lớn từ các tập đoàn, doanh nghiệp của Mỹ sẽ đổ vào Việt Nam trong năm 2015

Các mối quan hệ hợp tác trên các lĩnh vực khác như khoa học - kỹ thuật, giáo dục - đào tạo, y tế, lao động, văn hóa, cũng có những bước tiến tích cực. Đáng chú ý, trong lĩnh vực giáo dục, hai bên đã thỏa thuận và ký văn bản về những nguyên tắc hợp tác thực thi Quỹ Giáo dục dành cho Việt Nam. Hiện Việt Nam dẫn đầu số lượng sinh viên học ở Mỹ trong các nước ASEAN, với tổng số hơn 16.000 sinh viên, đứng thứ 8 trong số tất cả các nước có sinh viên đang học tập tại Mỹ. Trong lĩnh vực y tế, nhiều dự án và chương trình đã được nỗ lực xây dựng và có hiệu quả như chương trình Phòng chống HIV/AIDS, hợp tác Phòng chống dịch bệnh SARS, dự án Giáo dục vệ sinh và dinh dưỡng học đường.

 

Việt Nam và Mỹ cũng có nhiều cố gắng hợp tác giúp đỡ nhau giải quyết các vấn đề nhân đạo do chiến tranh để lại. Chính phủ và nhân dân Việt Nam đã và đang làm hết sức mình giúp Chính phủ Mỹ kiểm kê các trường hợp binh sỹ Mỹ mất tích trong chiến tranh. Phía Mỹ cũng đã có một số biện pháp đáp ứng những nhu cầu nhân đạo của Việt Nam trong việc khắc phục những hậu quả chiến tranh như xử lý bom mìn, tẩy độc, xúc tiến việc hợp tác nghiên cứu tác hại của chất độc da cam đối với con người và môi trường và giúp khắc phục những hậu quả do thiên tai, dịch bệnh ở Việt Nam, cung cấp thông tin về nhiều trường hợp binh sỹ Việt Nam mất tích trong chiến tranh.

 

Kỳ vọng sẽ có làn sóng đầu tư của Mỹ vào Việt Nam

Hiệp định Thương mại song phương Việt - Mỹ được ký kết và chính thức có hiệu lực tháng 12/2001 đã khiến kim ngạch thương mại giữa Việt Nam và Mỹ có bước nhảy vọt khi đưa Mỹ trở thành thị trường hàng đầu cho hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam. Trong năm 2014, Việt Nam đã nổi lên thành đối tác thương mại lớn thứ 26 của Mỹ với tổng kim ngạch thương mại hai chiều đạt trên 36 tỷ USD, gấp 70 lần kể từ khi hai nước chính thức bình thường hóa quan hệ năm 1995. Dự kiến đến năm 2020, kim ngạch thương mại hai chiều sẽ đạt khoảng 57 tỷ USD. 

 

Trong lĩnh vực đầu tư, theo thông tin từ Cục Đầu tư nước ngoài thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến ngày 20/3/2015, Mỹ có 735 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) còn hiệu lực tại Việt Nam với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt khoảng 11,06 tỷ USD, xếp thứ 7 trong tổng số 101 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam. Tính riêng trong quý I/2015, Mỹ có 8 dự án FDI được cấp Giấy chứng nhận đầu tư mới và 2 lượt dự án tăng vốn với tổng vốn đầu tư cấp mới và tăng thêm đạt gần 70 triệu USD. Các nhà đầu tư Mỹ đã đầu tư vào 17/21 ngành trong hệ thống phân ngành kinh tế quốc dân với quy mô bình quân vốn đầu tư cho một dự án là 15 triệu USD, cao hơn so với quy mô trung bình của một dự án FDI vào Việt Nam hiện nay là 14,3 triệu USD. Về tình hình đầu tư của Việt Nam sang Mỹ, tính đến hết tháng 8/2014, Việt Nam đã có 124 dự án đầu tư, với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng vốn là 426,74 triệu USD. Mỹ hiện đứng thứ 9 trong số 63 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư của Việt Nam. 

IMG

Đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ Phạm Quang Vinh (ngoài cùng bên trái) và Đại sứ Mỹ Ted Osius (ngoài cùng bên phải) trong một diễn đàn tổ chức ngày 24/3/2015 tại Viện Nghiên cứu chiến lược CSIS về quan hệ Việt - Mỹ

Chúng ta có thể kỳ vọng vào một làn sóng đầu tư lớn từ các tập đoàn, doanh nghiệp của Mỹ sẽ đổ vào Việt Nam trong năm 2015. Theo Hội đồng Kinh doanh Mỹ - ASEAN, sự quan tâm của giới đầu tư Mỹ đối với Việt Nam đã thể hiện rõ ở con số 33 doanh nghiệp Mỹ đến tìm hiểu và quan tâm đến môi trường kinh doanh tại Việt Nam  trong năm 2014, so với con số 22 của năm 2013. Sự quan tâm này sẽ càng lớn hơn khi Việt Nam tham gia vào Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). 

 

Đánh giá quan hệ Việt - Mỹ trong thời gian gần đây, tại Hội nghị quốc tế với chủ đề “Quan hệ Việt - Mỹ: Thêm 20 năm thành công hơn nữa” diễn ra ngày 26/01/2015, cựu Đại sứ Việt Nam tại Mỹ Lê Văn Bàng cho biết: “5 năm trước, cũng tại diễn đàn này, ngài Peterson (Pete Peterson, cựu Đại sứ Mỹ tại Việt Nam) nói Mỹ và Việt Nam sẽ tiến tới quan hệ đối tác toàn diện. Bản thân tôi không tin. Nhưng chỉ 3 năm sau đó, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Tổng thống Mỹ Barack Obama đã thiết lập quan hệ toàn diện”.

 

 

Theo Amcham Hồng Kông, việc chủ động tham gia Hiệp định TPP làm cho Việt Nam trở nên hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư nước ngoài, trong đó có Mỹ, khiến cho thị trường Việt Nam “khác biệt” so với các quốc gia khác tại khu vực ASEAN không phải là thành viên TPP. Việt Nam hiện đang là sự lựa chọn ưu tiên của các công ty Mỹ có trụ sở tại Hồng Kông khi tính toán đến việc dịch chuyển đầu tư ra ngoài Trung Quốc. Nhiều công ty, tập đoàn lớn của Mỹ hiện đang có kế hoạch chuyển phần lớn cơ sở sản xuất sang Việt Nam như: Tập đoàn Nike, Inc, Tập đoàn dệt may Mast Industries, Ltd, P&G…

 

Một tín hiệu đáng mừng nữa là, bên cạnh những lĩnh vực đầu tư truyền thống như bất động sản, phân phối hàng hóa, logistics, giáo dục..., nhiều doanh nghiệp Mỹ đã chú trọng đến các dự án về kết cấu hạ tầng tại Việt Nam. Sự quan tâm này cộng với việc ra đời khung pháp lý về đầu tư theo hình thức đối tác công tư (Nghị định số 15/2015/NĐ-CP) hứa hẹn sẽ mở đường cho sự dịch chuyển của dòng vốn FDI của Mỹ vào Việt Nam.   

 

Phát biểu trong một diễn đàn tổ chức ngày 24/3/2015 tại Viện Nghiên cứu chiến lược CSIS về quan hệ Việt - Mỹ, Đại sứ Osius đã bày tỏ sự ủng hộ ý tưởng “đã đến lúc Việt Nam và Mỹ phải tiến xa hơn để hợp tác ở mức khu vực và toàn cầu”. "Với ý tưởng đưa quan hệ hai nước vượt lên mức khu vực và toàn cầu thì trước tiên là hợp tác thương mại. TPP là một cơ hội rất lớn để Việt Nam  tiến thêm một bước trong hội nhập kinh tế toàn cầu và sẽ giúp cho mục tiêu tăng gấp đôi giá trị thương mại hai chiều của chúng ta thành hiện thực” – Ông Osius nhấn mạnh.

 

Đồng thuận với quan điểm này, Đại sứ Việt Nam tại Washington Phạm Quang Vinh khẳng định, hai nước có thể hợp tác và phát triển bền vững hơn nữa trong các lĩnh vực như thương mại, quốc phòng, an ninh hàng hải, năng lượng, môi trường, khoa học công nghệ, y tế và giáo dục… Đại sứ Phạm Quang Vinh cũng cho rằng, năm 2015 sẽ là dấu mốc lịch sử trong quan hệ Việt - Mỹ và đó là lý do mà “tất cả mọi thứ cần phải được bình thường hóa, kể cả gỡ bỏ lệnh cấm vận vũ khí sát thương”.

Hoàng Minh

Ảnh: N.C

ngocthanh