Kinh nghiệm quốc tế về triển khai dự án PPP lĩnh vực hàng không

Trên thế giới, nhiều nước đã thực hiện thành công rất nhiều dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) trong lĩnh vực hàng không. Và việc phát triển các dự án PPP này đã đem lại hiệu quả và lợi ích nhiều mặt cho các quốc gia có dự án.
Kinh nghiệm quốc tế về triển khai dự án PPP lĩnh vực hàng không

Trên thế giới, nhiều nước đã thực hiện thành công rất nhiều dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) trong lĩnh vực hàng không. Và việc phát triển các dự án PPP này đã đem lại hiệu quả và lợi ích nhiều mặt cho các quốc gia có dự án.

 

Kinh nghiệm của châu Âu

Xu hướng đầu tư vào sân bay tại châu Âu chủ yếu theo hướng hỗn hợp về sở hữu tài sản. Vương quốc Anh là quốc gia đi đầu trong việc đầu tư phát triển sân bay theo hình thức PPP ở châu Âu, các sân bay tại Anh chủ yếu là sở hữu tư nhân. Còn tại Đức, năm 1996, Chính phủ nước này bắt đầu tiến hành đầu tư vào sân bay với sự tham gia của tư nhân và có 5/18 sân bay quốc tế được áp dụng theo hình thức PPP. Tại các nước khác trong Liên minh châu Âu (EU) như Latvia, Hy Lạp... cũng có các dự án đầu tư PPP nhưng chủ yếu là đầu tư vào các nhà ga. Tại vùng Đông Âu và Trung Á, các dự án PPP lĩnh vực sân bay hầu hết áp dụng hình thức thoái vốn và nhượng quyền khai thác. Còn tại Thổ Nhĩ Kỳ, Hungary cũng có một vài dự án BOT trong lĩnh vực nhà ga được triển khai. 

IMG

Hiện nay, 6 sân bay quốc tế của Thái Lan (Bangkok-Suvarnabhumi, Bangkok-Don Mueang, Phuket, Hat Yai, Chiang Mai và Luang-Chiang Rai) đều do ATO (một công ty đại chúng được chuyển đổi từ doanh nghiệp nhà nước) khai thác

Ảnh: Lê Tiên

Kinh nghiệm của châu Mỹ

Số dự án PPP thành công ở khu vực Mỹ Latinh khá cao, có 43 dự án với số vốn là khoảng 9,285 triệu USD.

 

Tại Bắc Mỹ, Canada là một trong những nước đầu tiên thực hiện chính sách giảm đầu tư từ ngân sách nhà nước vào các sân bay và thay thế bằng hình thức đầu tư PPP với chính sách bán hoàn toàn một số sân bay; đối với một số sân bay quan trọng thì chỉ được cho thuê khai thác, quản lý và bảo trì. Khi các công ty tư nhân tại Canada mua lại hệ thống sân bay, họ chủ động trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ, nhưng vẫn phải tuân thủ các quy định của cơ quan quản lý nhà nước. Chính phủ liên bang Canada vẫn giữ quyền sở hữu việc vận hành, quản lý, bảo trì các sân bay ở Canada, hiện được chuyển giao cho 21 cơ quan/tổ chức.

 

Còn tại Chilê, Colombia, tư nhân tham gia đầu tư khai thác sân bay chủ yếu bằng hình thức nhượng quyền các dự án nhà ga hành khách, hàng hóa, đài kiểm soát không lưu và một số công trình công cộng. 

 

Kinh nghiệm của châu Á

Đối với các nước Ấn Độ, Bangladesh, Pakistan, hiện có 8 dự án PPP trong lĩnh vực hàng không được triển khai và một nửa trong số đó là các dự án đầu tư xây dựng mới hoàn toàn sân bay. Hình thức thực hiện các dự án sân bay ở 3 quốc gia này là hợp đồng chuyển nhượng, hợp đồng quản lý O&M và BOO. 

 

Cụ thể, tại Ấn Độ, dự án PPP sân bay quốc tế mới ở Cochin là dự án đầu tiên (năm 1996) với số vốn đầu tư là khoảng 125 triệu USD, được huy động từ hơn 10.000 cá nhân. Tiếp đó là sân bay Mumbai và sân bay Delhi được đầu tư trong giai đoạn 2003 - 2004 (chiếm tới 47% lượng hàng hóa và hành khách của quốc gia này) và được Chính phủ Ấn Độ nhượng quyền cho tư nhân vận hành, khai thác. Thời gian lựa chọn nhà đầu tư thực hiện 2 dự án này diễn ra từ năm 2004 đến tháng 1/2006 và 2 nhà đầu tư được lựa chọn trao quyền vận hành khai thác là Tập đoàn GMR-Fraport (sân bay Delhi), Tập đoàn GVK-ACSA (sân bay Mumbai).

 

Tại Thái Lan, trước đây, tất cả sân bay đều thuộc trách nhiệm quản lý của Tổng công ty nhà nước (ATO). Vào năm 1996, Chính phủ Thái Lan thành lập Công ty New Bangkok International Airport (NBIA) để đảm trách việc xây dựng và phát triển sân bay quốc tế Suvarnabhumi. NBIA là công ty thuộc sở hữu nhà nước, trực thuộc Bộ Giao thông vận tải Thái Lan. Sân bay Suvarnabhumi của Thái Lan chính thức đi vào hoạt động từ tháng 9/2006. Sau đó, vào năm 2002, ATO được cổ phần hóa và chuyển từ doanh nghiệp nhà nước thành một công ty đại chúng. Đến nay, Bộ Tài chính Thái Lan là cổ đông lớn nhất của ATO, chiếm tới 70% cổ phần, 30% còn lại thuộc về các tổ chức tài chính và nhà đầu tư cá nhân.

 

Sau khi sân bay Suvarnabhumi hoàn thành, Công ty NBIA đã được chuyển giao cho ATO. Hiện nay, 6 sân bay quốc tế của Thái Lan (Bangkok-Suvarnabhumi, Bangkok-Don Mueang, Phuket, Hat Yai, Chiang Mai và Luang-Chiang Rai) đều do ATO đảm trách khai thác; 3 sân bay tư nhân là Samui, Sukhothai và Trad là do hãng Bangkok Airways (100% vốn tư nhân) khai thác theo hình thức BOO.

 

Tại Campuchia, năm 1995, Chính phủ Campuchia đã ký hợp đồng nhượng quyền với nhà đầu tư là công ty liên doanh Pháp - Malaysia (Société Concessionaire d'Aéroport – SCA) cho phép khai thác sân bay quốc tế Phochentong trong thời hạn 20 năm với trị giá là khoảng 100 triệu USD. SCA có 70% vốn thuộc về Tập đoàn GMT (Pháp) và 30% thuộc về Tập đoàn Muhibbah Masterron (Malaysia). Đây là một hợp đồng nhượng quyền theo hình thức BOT.

 

Trong hai năm 2001 và 2006, Chính phủ Campuchia lần lượt nhượng quyền cho SCA khai thác sân bay quốc tế thứ 2 của Campuchia là sân bay Siem Reap và sân bay lớn thứ 3 là sân bay Sihanoukville. Năm 2005, SCA thành lập Công ty Cambodia Airport Management Services Ltd (CAMS) và được giao quản lý, khai thác cả 3 sân bay nhượng quyền nói trên.

 

Ngoài các dự án trên, Cục Hàng không Campuchia (SSCA) quản lý toàn bộ các sân bay khác (trừ sân bay Kampong Chhnang do quân đội quản lý và hiện đã đóng cửa). Năm 2010, Chính phủ Campuchia đã phê duyệt dự án Xây dựng sân bay quốc tế Angkor (ở Siem Reap) với tổng mức đầu tư là 1 tỷ USD do hai công ty Hàn Quốc là Camco Airport Co và Lees A&A thực hiện.

 

Tại Lào, quốc gia có 12 sân bay, trong đó có 4 sân bay đạt tiêu chuẩn phục vụ quốc tế, những sân bay khác phục vụ các chuyến bay nội địa, vào tháng 4/1999, Tổ hợp JALUX Inc. and Toyota Tsusho (Nhật Bản) đã liên doanh với Công ty Khai thác cảng hàng không Lào thành lập Công ty Lao - Japan Airport Terminal Services Co., Ltd. Công ty này sau đó đã trúng thầu hợp đồng quản lý và khai thác Nhà ga hành khách quốc tế sân bay Wattay với thời gian là 15 năm. Tháng 4/2014, Bộ Giao thông công chính Lào gia hạn hợp đồng này thêm 5 năm.

 

Tại Myanmar, năm 2011, Chính phủ Myanmar xây dựng một chương trình tư nhân hóa hệ thống sân bay quốc nội của mình. Hai tập đoàn lớn của Nhật Bản là Mitsubishi và Jalux liên doanh với Tập đoàn Yoma Strategic Holdings của Singapore đã thành lập Công ty MC-Jalux Airport Services để điều hành, khai thác sân bay lớn thứ hai của Myanmar - sân bay Mandalay bằng hợp đồng nhượng quyền khai thác, nâng cấp và bảo trì sân bay với thời hạn là 30 năm. Dự kiến, MC-Jalux Airport Services sẽ tổ chức khai thác sân bay này theo hợp đồng nhượng quyền trong năm 2015. 

Bích Thảo

ngocthanh