Kinh nghiệm của Trung Quốc trong phát triển dự án PPP ngành hàng không

Được đánh giá là quốc gia thành công trong việc phát triển các dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) ngành hàng không, Trung Quốc đã thực hiện quá trình tự do hóa kinh doanh sân bay từ năm 1980
Kinh nghiệm của Trung Quốc trong phát triển dự án PPP ngành hàng không

Được đánh giá là quốc gia thành công trong việc phát triển các dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) ngành hàng không, Trung Quốc đã thực hiện quá trình tự do hóa kinh doanh sân bay từ năm 1980 nhằm thúc đẩy sự phát triển của hệ thống sân bay và đa dạng hóa đầu tư phát triển sân bay, giảm gánh nặng tài chính cho Nhà nước và nâng cao hiệu quả kinh doanh sân bay. 

IMG

Nhiều sân bay ở Trung Quốc đã và đang được đầu tư bởi tư nhân 

 

Quá trình tự do hóa kinh doanh sân bay của Trung Quốc được hoạch định diễn ra qua 4 giai đoạn chính. Mỗi giai đoạn được thiết kế nhằm tạo ra các cơ hội mới cho đầu tư nước ngoài và tư nhân trong nước và định hình bằng sự kết hợp khác nhau giữa sở hữu sân bay và mô hình quản lý sân bay và đi kèm với đó là các cách thức quản trị tương ứng.

 

Ở giai đoạn 1 (1980 - 1986), Trung Quốc cho phép các sân bay dân dụng được tách ra khỏi sự quản lý của Quân đội và đặt dưới sự quản lý của Tổng cục Hàng không dân dụng Trung Quốc (CAAC) – Cơ quan được thành lập năm 1980. 

 

Trong giai đoạn 2 (1986 - 1992): Trung Quốc ban hành “Quy định tạm thời về Quản lý khai thác Sân bay dân dụng” (tháng 7/1986); doanh nghiệp cảng hàng không đầu tiên được thành lập tại Sân bay Thành Đô, tách ra khỏi CAAC. Đến năm 1989, 4 doanh nghiệp cảng hàng không được giao quản lý 4 sân bay Thành Đô, Bắc Kinh, Thượng Hải và Tây An. Các doanh nghiệp hoạt động dưới sự quản lý của các Cục Hàng không khu vực của CAAC. Các sân bay này được áp dụng một hệ thống quản lý mới thông qua các hợp đồng nhượng quyền. Từ năm 1987, các chính quyền địa phương cũng được cho phép đầu tư vào xây dựng, mở rộng sân bay. 

 

Trong giai đoạn 1986 - 1992, tổng số tiền đầu tư vào việc nâng cấp, mở rộng và xây dựng 46 sân bay nội địa của Trung Quốc lên tới 4,42 tỷ nhân dân tệ. Tuy nhiên, bất kể đầu tư từ nguồn nào, dù là từ Trung ương hay từ địa phương thì các sân bay Trung Quốc vẫn thuộc sở hữu của chính quyền trung ương, CAAC vẫn là cơ quan duy nhất quản lý, điều hành toàn bộ hệ thống sân bay dân dụng của Trung Quốc.

 

Trong giai đoạn 3 (1993 - 2001), để thực hiện Nghị định về chuyển đổi cơ chế kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực hàng không dân dụng, năm 1993 CAAC ban hành “Các biện pháp thực hiện chuyển đổi cơ chế kinh doanh của doanh nghiệp hàng không nhà nước” và “Quy định tạm thời về quản lý khai thác sân bay dân dụng”. Kể từ đó, sân bay toàn quốc được cổ phần hoá và kinh doanh theo thị trường. Chính phủ Trung Quốc có những nỗ lực ban đầu thu hút đầu tư tư nhân vào sân bay, trong đó phải kể đến việc ban hành “Thông cáo về Chính sách đầu tư nước ngoài trong ngành hàng không dân dụng”. Trong giai đoạn này, với những nỗ lực của Chính phủ Trung Quốc, sân bay Tứ Xuyên đã được niêm yết trên thị trường chứng khoán trong nước vào năm 1996; sân bay Thượng Hải và sân bay Thâm Quyến niêm yết vào năm 1998 và 2 sân bay này đã huy động được 2,56 tỷ nhân dân tệ. 

 

Để khuyến khích các doanh nghiệp hàng không đầu tư vào sân bay, năm 1998, CAAC đã ban hành “Quy định tạm thời về doanh nghiệp hàng không trong nước đầu tư vào sân bay dân dụng”. Đến năm 2000, sân bay Thủ đô Bắc Kinh được niêm yết trên thị trường chứng khoán Hồng Kông, mở đường cho các dòng vốn tư nhân và nước ngoài đổ vào ngành sân bay dân dụng Trung Quốc thông qua thị trường vốn. Sở hữu sân bay đã thành dạng hỗn hợp, trong đó chính quyền trung ương và địa phương vẫn là những cổ đông lớn nhất chi phối điều hành các sân bay ở Trung Quốc. Cũng trong giai đoạn này, Trung Quốc tiến hành tự do hoá các dịch vụ hàng không như phục vụ kỹ thuật mặt đất, bảo dưỡng, suất ăn hàng không... bằng việc thuê ngoài hoặc thành lập các doanh nghiệp độc lập. CAAC tiếp tục giữ vai trò thiết chế và thực thi các quy chế sân bay và quản lý khai thác 90 sân bay thuộc sở hữu của chính quyền trung ương. 

IMG

Để tăng cường thu hút đầu tư vào sân bay, Trung Quốc thực hiện tự do hoá giá dịch vụ sân bay

IMG

Chính sách của Trung Quốc cũng kích thích các hãng hàng không Trung Quốc tích cực đầu tư vào sân bay

Giai đoạn 4 (từ năm 2002 đến nay), hệ thống sân bay Trung Quốc bước vào một thời kỳ mới với nhiều cơ hội cho khu vực ngoài quốc doanh tham gia kinh doanh sân bay. Năm 2003, Trung Quốc thực hiện “Quy định về Cải cách hệ thống quản lý hành chính đối với sân bay dân dụng”. Tư nhân trong nước đã được phép tham gia đầu tư; được phép mua và khai thác các sân bay nhỏ và tham gia vào hoạt động xây dựng kết cấu hạ tầng, quản lý và khai thác khác. Để tăng cường thu hút đầu tư vào sân bay, Trung Quốc thực hiện tự do hoá giá dịch vụ sân bay bằng việc ban hành “Kế hoạch cải cách giá dịch vụ sân bay” trong năm 2007 cho phép các sân bay có nhiều quyền hơn trong việc định giá dịch vụ của mình phù hợp với thị trường nhưng vẫn duy trì kiểm soát bằng giá trần. Những chính sách nói trên đã thực sự thúc đẩy sự phát triển sân bay ở Trung Quốc.

 

Các nhà đầu tư sân bay nước ngoài có thể đầu tư vào sân bay Trung Quốc theo 3 cách: mua cổ phần thông qua đầu tư trực tiếp; mua cổ phiếu ở thị trường chứng khoán; hoặc đầu tư vào các dịch vụ phi hàng không. Ví dụ, sân bay quốc tế Hồng Kông đầu tư 19,8 triệu nhân dân tệ và chiếm 55% cổ phần để thành lập Công ty Hong Kong-Zhuhai Airport Management và cùng chính quyền địa phương quản lý sân bay Chu Hải trong năm 2006. Bên cạnh đó, tổ chức có tên gọi Hong Kong International Airport Authority, liên doanh với sân bay quốc tế Hàng Châu tháng 12/2006, nắm giữ 35% cổ phần của sân bay này. Tập đoàn Lufthansa của Đức ký với sân bay Tây An một hợp đồng đầu tư trị giá 63 triệu USD để nắm 25% cổ phần vào tháng 3/2007. Sân bay Changi Singapore cũng ký một hợp đồng đầu tư trị giá 0,9 tỷ nhân dân tệ trong tháng 01/2007 với sân bay Nam Kinh để nắm giữ 29% cổ phần. Đến tháng 7/2007, sân bay Changi góp 49% vốn cùng với sân bay Thâm Quyến thành lập một liên doanh để đầu tư và quản lý 50 sân bay Trung Quốc. 

 

Các nhà đầu tư Trung Quốc cũng tham gia đầu tư tích cực vào sân bay. Ông Vương Xuân Quân, nhà đầu tư tư nhân đầu tiên góp 60 triệu nhân dân tệ để xây dựng sân bay Suifenhe trong năm 1998. Nhà đầu tư Vương Junyao bỏ ra 300 triệu nhân dân tệ để mua sân bay Yichang và đầu tư thêm 250 triệu nhân dân tệ để xây lại sân bay này trong năm 2003.

 

Chính sách của Trung Quốc cũng kích thích các hãng hàng không Trung Quốc tích cực đầu tư vào sân bay. Hãng China Southern Airlines đầu tư 630 triệu nhân dân tệ vào liên doanh xây dựng Nhà ga hàng hoá tại sân bay Baiyun 2004, 510 triệu nhân dân tệ để mở rộng sân bay Nanyang ở tỉnh Hà Nam…

 

Đến cuối năm 2007, toàn bộ sân bay ở Trung Quốc, trừ số sân bay ở Tây Tạng, đều đã được cổ phần hoá và vốn tư nhân đã đầu tư vào rất nhiều sân bay Trung Quốc. Tháng 12/2009, Công ty Sichuan Development Holding Co. Ltd. đã đầu tư 3 tỷ nhân dân tệ, chiếm 27,23% vốn của Chương trình đẩy mạnh xây dựng sân bay ở tỉnh Tứ Xuyên. 

 

Quá trình cải cách từng bước, theo 4 giai đoạn nói trên đã tạo ra sự phân tách rõ ràng giữa sở hữu, quản trị và chức năng quản lý nhà nước trong việc phát triển các dự án PPP ngành hàng không ở Trung Quốc.

Lại Xuân Thanh 

Cục trưởng Cục Hàng không Việt Nam

 Ảnh: Thanh Sơn 

ngocthanh